SỔ TAY
GIỚI THIỆU VỀ
HỌ, HỤI, BIÊU, PHƯỜNG
Hà
Nội, tháng 12 năm 2025
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NHÓM BIÊN SOẠN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Các khái niệm cơ bản
2. Về nguyên tắc tổ chức họ
3. Về tính chất pháp lý, đặc thù của quan hệ về họ
4. Tổng quan quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ về họ
4.1. Pháp luật dân sự
4.2. Pháp luật xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hình sự
5. Các hình thức họ (vay tài sản theo tập quán)
PHẦN II.
HÌNH THÀNH DÂY HỌ
1. Về chủ họ, tổ/nhóm trưởng
2. Về thành viên
3. Về thỏa thuận dây họ
4. Tài sản
PHẦN III.
HOẠT ĐỘNG CỦA DÂY HỌ VÀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN
1. Thông báo về việc tổ chức dây họ
2. Về việc lập, quản lý sổ họ, giấy biên nhận
3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên
4. Quyền và nghĩa vụ của chủ họ
5. Về đóng góp phần họ, lĩnh họ
6. Lãi suất
7. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ
8. Thay đổi trong dây họ
PHẦN IV.
VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ, CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC CÓ LIÊN QUAN
1. Ủy ban nhân dân cấp xã
2. Cơ quan công an các cấp
3. Các cơ quan có liên quan
PHẦN V.
BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO, TRANH CHẤP VÀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1.
Biện pháp phòng ngừa rủi ro, tranh chấp
2. Giải quyết tranh chấp
PHẦN VI.
PHỤ LỤC MỘT SỐ MẪU THAM KHẢO
CÁC TỪ VIẾT TẮT
|
Họ
|
Họ, hụi, biêu, phường
|
|
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
|
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường
|
|
BLDS
|
Bộ luật Dân sự
|
|
UBND
|
Ủy ban nhân dân
|
LỜI NÓI ĐẦU
Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ)
là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán, được hình thành và tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội. Với bản chất tốt đẹp, dựa trên tinh thần tương thân, tương ái, tin cậy và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, quan hệ về họ đã góp phần giải quyết nhu cầu vốn, ổn định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình và gắn kết xã hội. Đây là một tập quán xã hội lành mạnh, phù hợp với truyền thống văn hóa và hiện nay vẫn đang được Nhà nước tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật.
BLDS năm 2015 quy định “
Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên
”, “
Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật
” (khoản 1, 2 Điều 471). Để thi hành quy định của BLDS năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số 19/2019/NĐ-CP) với nhiều quy định quan trọng
nhằm điều chỉnh
giao dịch về tài sản theo tập quán
,
tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa, tập quán tốt đẹp về sự tương thân, tương trợ lẫn nhau trong
đời sống
, phục vụ sản xuất
của
người dân; tạo hành lang pháp lý
an toàn
, bảo đảm thực hiện quyền dân sự của người dân trong xác lập, thực hiện các quan hệ về vay tài sản nói chung và
điều chỉnh quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ về họ
nói riêng; góp phần hạn chế tình trạng cho vay lãi nặng
;
nâng cao vai trò quản lý Nhà nước
trong quản lý trật tự xã hội.
Thực tiễn thi hành quy định pháp luật trong thời gian qua cho thấy, nhiều mô hình họ lành mạnh, hoạt động đúng bản chất, an toàn và có sức lan tỏa tích cực trong cộng đồng, rất cần được tiếp tục ghi nhận, bảo vệ và phát huy. Bên cạnh đó, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, quan hệ về họ còn tiềm ẩn rủi ro và đã bị một số đối tượng lợi dụng, biến tướng thành lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay lãi nặng, huy động vốn trái pháp luật; việc điều chỉnh các quan hệ này không còn đơn thuần là quy định pháp luật dân sự mà đòi hỏi phải áp dụng các quy định pháp luật về quản lý trật tự xã hội, xử lý vi phạm hành chính, hình sự để giải quyết.
Vì vậy,
thông qua sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, các chuyên gia đã thực hiện biên soạn Sổ tay giới thiệu về họ, hụi, biêu, phường. Việc biên soạn, giới thiệu Sổ tay nhằm góp phần phổ biến pháp luật sâu rộng trong đời sống xã hội, hỗ trợ người dân, cán bộ, công chức thực hiện đúng các quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, giúp các quan hệ về họ được vận hành minh bạch, an toàn, đúng pháp luật; đồng thời, góp phần giải tỏa tâm lý e ngại trong Nhân dân, định hướng các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững. Những kinh nghiệm, đánh giá, khuyến nghị trong Sổ tay này là của các tác giả từ những trải nghiệm thực tế được đưa ra với mong muốn hỗ trợ các giao dịch được vận hành lành mạnh, phòng tránh rủi ro và không đại diện cho Bộ Tư pháp cũng như bất kỳ cơ quan nào thuộc Chính phủ Việt Nam, Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam.
Sổ tay hướng tới đối tượng tiếp cận, sử dụng là người dân, cán bộ, công chức thuộc
các cơ quan có thẩm quyền và các tổ chức có liên quan, có cấu trúc gồm 0
6
phần chính
sau đây:
Phần I:
Một số vấn đề chung
.
Phần II:
Hình thành dây họ
.
Phần III:
Hoạt động của dây họ và quyền, nghĩa vụ các bên
.
Phần IV:
Vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức khác có liên quan.
Phần V:
Biện pháp phòng ngừa rủi ro, tranh chấp và giải quyết tranh chấp.
Phần VI
. Phụ lục một số biểu mẫu tham khảo.
Nhóm biên soạn trân trọng cảm ơn sự quan tâm và đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng Sổ tay. Rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn đọc để nội dung Sổ tay tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.
----------------------------------------------
NHÓM BIÊN SOẠN
NHÓM CHUYÊN GIA BIÊN SOẠN SỔ TAY
1. TS. Chu Thị Hoa
2. TS. Lê Thị Hoàng Thanh
3. ThS. Quách Tường Vy
4. ThS. Lưu Thị Phấn
5. ThS. Lê Hồng Thái
NHÓM HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN
1. Đào Mai Hoa
2. Nguyễn Khánh Linh
LỜI CẢM ƠN
Trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam trong việc biên soạn, hoàn thiện cuốn Sổ tay giới thiệu về họ, hụi, biêu, phường quy định
tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Nhóm biên soạn
PHẦN I
.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Quy định pháp luật về một số khái niệm điều chỉnh quan hệ về họ
Pháp luật hiện hành đã có những quy định về các khái niệm cơ bản điều chỉnh quan hệ về họ như sau:
-
“Họ, hụi, biêu, phường”
(gọi chung là họ): là
hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán
trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên (khoản 1 Điều 471 BLDS năm 2015).
- “Hợp đồng vay tài sản”:
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463 BLDS năm 2015).
- “
Tài sản
”: là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 105 BLDS năm 2015).
+ Giấy tờ có giá: là các chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu tài sản hoặc nghĩa vụ tài chính, có thể được chuyển nhượng và có khả năng thanh toán, ví dụ: cổ phiếu, trái phiếu…
+
Quyền tài sản
là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115 BLDS năm 2015).
+ Bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015).
+ Động sản bao gồm: những tài sản không phải là bất động sản (khoản 2 Điều 107 BLDS năm 2015).
+ Tài sản hiện có: là tài sản đã hình thành và đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch (ví dụ ô tô, xe máy đã được làm giấy tờ xong…).
+ Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: tài sản chưa hình thành; tài sản đã hình thành nhưng xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch (ví dụ nhà chung cư đang xây dựng…).
-
“Dây họ”:
là một họ hình thành trên cơ sở thỏa thuận cụ thể của những người tham gia họ về thời gian, phần họ, thể thức góp họ, lĩnh họ, quyền, nghĩa vụ của chủ họ (nếu có) và các thành viên (khoản 1 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Chủ họ”:
là người tổ chức, quản lý dây họ, thu các phần họ và giao các phần họ đó cho thành viên được lĩnh họ trong mỗi kỳ mở họ cho tới khi kết thúc dây họ. Chủ họ có thể đồng thời là thành viên của dây họ (khoản 3 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Thành viên”:
là người tham gia dây họ, góp phần họ, được lĩnh họ và trả lãi (nếu có) (khoản 2 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Phần họ”:
là số tiền hoặc tài sản khác được xác định theo thoả thuận mà mỗi thành viên phải góp tại mỗi kỳ mở họ (khoản 4 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Kỳ mở họ”:
là thời điểm được xác định theo thoả thuận của những người tham gia dây họ mà tại thời điểm đó các thành viên góp phần họ và có thành viên được lĩnh họ (khoản 5 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Họ không có lãi”:
là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác (khoản 6 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Họ có lãi”:
là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và phải trả lãi cho các thành viên khác (khoản 7 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Họ hưởng hoa hồng”:
là họ có lãi hoặc họ không có lãi mà thành viên được lĩnh họ phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ theo mức do những người tham gia dây họ thỏa thuận (khoản 8 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Sổ họ”
: là một cuốn sổ ghi chép chi tiết thông tin bao gồm: các nội dung trong văn bản thỏa thuận của dây họ; Ngày góp phần họ, số tiền đã góp họ của từng thành viên; Ngày lĩnh họ, số tiền đã lĩnh họ của thành viên lĩnh họ; Chữ ký hoặc điểm chỉ của thành viên khi góp họ và lĩnh họ; Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của dây họ. Việc lập sổ họ có tác dụng để quản lý các hoạt động trong nhóm chơi họ (bao gồm cả quản lý tài chính và quản lý con người), giúp đảm bảo minh bạch về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người tham gia, từ chủ họ đến thành viên (Điều 12 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
- “Giấy biên nhận”:
là văn bản ghi lại việc một người đã nhận tiền hoặc đã đóng tiền họ (cụ thể: khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác), đây là minh chứng nhằm tránh các tranh chấp phát sinh (Điều 13 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
1.2. Một số khái niệm khác trong thực tiễn
a)
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP kế thừa tên gọi về họ, hụi, biêu, phường của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế tập quán về vay tài sản trong nhân dân không chỉ được gọi là họ, hụi, biêu
,
phường mà còn có một số
cách gọi khác như hội, phụng…
, hay khái niệm
“Thứ tự lĩnh họ”
-
là quy trình nhằm xác định thành viên nào sẽ được nhận toàn bộ số tiền góp họ (gốc và lãi, nếu có) trong mỗi kỳ mở họ. Cơ chế này đóng vai trò quyết định quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên, và được pháp luật phân chia rõ rệt tùy thuộc vào tính chất có lãi hay không có lãi của dây họ, qua đó thể hiện sự linh hoạt và công bằng.
b)
Tại nhiều địa phương còn có những mô hình về bản chất cũng là mô hình vay tài sản vận hành theo tập quán lâu đời như: tổ tương trợ vốn, tổ tiết kiệm vay vốn thôn bản (VSLA), nhóm tiết kiệm, nhóm tiết kiệm vay vốn thôn bản tự quản, tổ góp vốn xoay vòng, tổ phụ nữ tiết kiệm… với các hình thức tổ chức quản lý khác nhau.
Để phù hợp với cách thức tổ chức, hoạt động của các mô hình trên thực tiễn đã có một số khái niệm đặc thù được sử dụng, như:
- “Ban Quản lý Tổ”:
thực hiện trách nhiệm tổ chức và quản lý Tổ, Ban có thể bao gồm nhiều người (kế toán, người quản lý sổ sách, thủ quỹ…). Tương tự vai trò của Chủ họ.
- “Quy chế hoạt động của Tổ”:
tương tự như “Văn bản thoả thuận về dây họ”.
- “Chu kỳ”:
hay còn có tên là kỳ họ, vòng họ (bản chất là Kỳ mở họ): tức là khoảng thời gian cố định mà mỗi thành viên phải đóng tiền hoặc lĩnh họ một lần. Ví dụ: Chu kỳ 01 tháng có nghĩa mỗi tháng đóng tiền 01 lần; Chu kỳ 15 ngày có nghĩa mỗi nửa tháng đóng 01 lần; Chu kỳ 01 tuần có nghĩa mỗi tuần đóng 01 lần.
- “Phiếu góp vốn”
hay còn có tên là Phiếu tiết kiệm/cổ phần tùy theo loại hình góp họ: là giấy tờ xác nhận việc một thành viên đã góp một khoản tiền tại một kỳ họ/vòng họ/chu kỳ.
- “
Vốn vay
”: là số tiền từng thành viên nhận từ tiền góp của các thành viên khác trong tổ, có thể không lãi suất hoặc có lãi suất tùy thỏa thuận của các thành viên tham gia.
2. Về nguyên tắc tổ chức họ
Điều 3 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP đã quy định 03 nguyên tắc tổ chức họ như sau:
Thứ nhất
,
việc tổ chức họ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS năm 2015 (khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP). Nguyên tắc này được quy định dựa trên bản chất quan hệ về họ là xuất phát từ quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, việc tổ chức họ là nhiều giao dịch vay tài sản được xác lập, thực hiện trong khoảng thời gian nhất định; bởi vậy, trước hết quan hệ về họ phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015.
Thứ hai,
việc tổ chức họ chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP), quy định này đảm bảo phù hợp với khoản 2 Điều 471 BLDS năm 2015; mặt khác, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước không thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích kinh doanh hay tổ chức họ có tính chất chuyên nghiệp, tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ ba
,
không được tổ chức họ để cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác (khoản 3 Điều 3 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP); quy định này là tiền đề quan trọng để hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung các hành vi sẽ bị xử phạt như huy động vốn trái pháp luật, không thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ về họ; đồng thời, việc lợi dụng quan hệ về họ làm phát sinh các biến tướng cũng sẽ chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự.
3. Về tính chất pháp lý, đặc thù của quan hệ về họ
3.1. Tính chất pháp lý
Thứ nhất,
quan hệ về họ có tính chất là giao dịch về tài sản theo tập quán, tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa, tập quán tốt đẹp về sự tương thân, tương trợ lẫn nhau trong đời sống, phục vụ sản xuất. Họ được ghi nhận là tập quán tồn tại lâu đời, phổ biến trong đời sống xã hội ở Việt Nam, về tính chất là tập quán điều chỉnh quan hệ nhiều người vay một người và một người vay nhiều người diễn qua các kỳ họ nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, tạo lập cho từng thành viên có một nguồn vốn để sản xuất, phục vụ các nhu cầu cuộc sống và trả dần cho nhau qua kỳ họ. Bởi vậy, ngoài các quy định ghi nhận những quan hệ mang tính đặc thù của tập quán này, pháp luật có các quy định đảm bảo an toàn, lành mạnh cho các bên trong quan hệ; tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên.
Thứ hai,
quan hệ về họ trong nhân dân và các quy định pháp luật thiết lập khung khổ, luật lệ an toàn, bảo đảm thực hiện quyền dân sự của người dân trong xác lập, thực hiện các quan hệ về vay tài sản nói chung và về họ nói riêng; góp phần hạn chế tình trạng cho vay lãi nặng; nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong quản lý trật tự xã hội. Theo đó, quy định pháp luật định hướng hành vi để các bên tham gia họ tự kiểm soát lẫn nhau, tăng cường ý thức tự bảo vệ quyền dân sự; bảo đảm quyền lợi ích chính đáng của các bên tham gia họ, có những quy định có tính can thiệp ở mức độ nhất định của Nhà nước như quy định về điều kiện làm chủ họ, điều kiện làm thành viên, hình thức thỏa thuận về họ, việc thông báo về dây họ cho UBND cấp xã để đảm bảo quan hệ về họ được lành mạnh, tránh sự lạm dụng, biến tướng.
3
.
2. Đặc thù, lợi ích khi tham gia họ
a) Lợi ích kinh tế
-
Tạo dựng thói quen tiết kiệm cho các thành viên thông qua việc đóng góp đều đặn những khoản tiền nhỏ, phù hợp với khả năng tài chính, đặc biệt với nhóm người nghèo, khó khăn, vùng sâu, xa.
- Hỗ trợ thành viên có nhu cầu vay tiếp cận được khoản vay
kịp thời để hỗ trợ phát triển kinh tế (như vay vốn để phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi…), giải quyết nhu cầu cấp bách, tức thời của người dân (như ốm đau, hiếu hỉ, mua
sắm đồ dùng học tập cho con, sửa chữa nhà cửa, làm nhà vệ sinh …) với cách thức vay đơn giản.
- Là hình thức tương trợ cần thiết đối với những người dân không thể tiếp cận được với nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, hoặc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức nhưng không kịp thời so với nhu cầu, góp phần hạn chế “tín dụng đen”.
- Thông qua các hoạt động định kỳ của tổ/nhóm, các thành viên có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt,…, qua đó hỗ trợ nhau sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn.
- Mô hình tổ/nhóm còn là tiền đề quan trọng để phát triển các mô hình kinh tế khác như tổ hợp tác, hợp tác xã.
Trên thực tế, những
tổ/nhóm
được hình thành phổ biến trong đời sống xã hội, đặc biệt là ở vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, thành viên đa số là người nghèo, cận nghèo hoặc thu nhập thấp. Vì vậy, việc mang lại lợi ích kinh tế đã khiến người dân ngày càng đánh giá cao và tiếp tục nhân rộng các mô hình này.
b) Lợi ích về an ninh, trật tự xã hội
- Các thành viên tham gia dây họ thường sinh sống gần nhau, trên cùng địa bàn và biết rõ nhau, số tiền tham gia tiết kiệm và cho vay thường không lớn, cùng với những ràng buộc trong cuộc sống tại thôn, bản (như rất coi trọng uy tín, hình ảnh cá nhân và gia đình trong cộng đồng); khi sinh hoạt tại các tổ/nhóm, các thành viên được giao lưu, học hỏi kiến thức, cách thức tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất cũng như trong cuộc sống; duy trì kết nối để được tham gia các hoạt động hỗ trợ khác của chính quyền, hội, tổ chức, nhà tài trợ…
- Tạo môi trường chia sẻ, gắn kết tương trợ bà con lẫn nhau, góp phần tạo nên giá trị xã hội, nhân văn, mang bản sắc văn hoá cộng đồng sâu sắc.
4. Tổng quan quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ về họ
Khi tìm hiểu quy định về họ, cần phải hiểu, nắm vững nhiều quy định có liên hệ, kết nối với nhau
. Cụ thể:
4.1. Pháp luật dân sự
a)
BLDS năm 2015, văn bản hướng dẫn thi hành
có nhiều quy định mang tính nguyên tắc và cả những quy định cụ thể để áp dụng trong quan hệ vay tài sản, đã tạo lập những cơ sở rất cơ bản, toàn diện cho quan hệ vay tài sản trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, cân bằng, bảo đảm một cách hài hòa quyền và lợi ích của các bên. BLDS năm 2015 có 689 điều, trong đó có khoảng 140/689 điều là điều chỉnh trực tiếp hoặc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến quan hệ vay tài sản.
Cụ thể:
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp hợp đồng vô hiệu, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 117 đến Điều 133
BLDS năm 2015
).
Đại diện (Điều 134 đến Điều 143, Điều 562 đến Điều 569
BLDS năm 2015
).
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 292 đến Điều 350
BLDS năm 2015
) gồm 9 biện pháp là cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Để bảo đảm thi hành BLDS năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, Luật Đầu tư năm 2020, 2025 đều quy định việc k
inh doanh dịch vụ cầm đồ là một trong những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục IV, mục 7).
Chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ (Điều 365 đến Điều 371
BLDS năm 2015
).
Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (Điều 357
BLDS năm 2015
), trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 360, Điều 361
BLDS năm 2015
), bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi (Điều 363
BLDS năm 2015
);
Giải thích giao dịch, giải thích hợp đồng (Điều 121, Điều 404
BLDS năm 2015
).
Hợp đồng theo mẫu; điều kiện giao dịch chung (Điều 405, Điều 406
BLDS năm 2015
);
Chấm dứt hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng (Điều 422 đến Điều 428
BLDS năm 2015
).
Hợp đồng vay tài sản (Điều 463 đến Điều 471
BLDS năm 2015
). BLDS năm 2015 đã có những quy định về giới hạn lãi suất trong hợp đồng vay tài sản, trên cơ sở đó, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Phạt vi phạm (Điều 418
BLDS năm 2015
), phạt vi phạm trong một số trường hợp như hủy bỏ hợp đồng (khoản 1 Điều 427
BLDS năm 2015
), đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng (khoản 3 Điều 428
BLDS năm 2015
), trong các quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (khoản 1 Điều 293, khoản 2 Điều 336
BLDS năm 2015
). Trên cơ sở các quy định của BLDS, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng (Điều 419
BLDS năm 2015
); bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 584 đến Điều 589
BLDS năm 2015
).
BLDS năm 2015 không thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích kinh doanh hay tổ chức họ có tính chất chuyên nghiệp, tìm kiếm lợi nhuận.
b)
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở ghi nhận quan hệ cho vay theo tập quán tại Điều 471 BLDS năm 2015, Nghị định gồm 28 điều, được chia thành 5 chương điều chỉnh
quan hệ về họ ở góc độ là quan hệ vay tài sản của pháp luật dân sự được vận hành theo
tập quán phổ biến trong đời sống xã hội ở Việt Nam là tập quán một người vay nhiều người tại từng kỳ mở họ nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, giúp thành viên lĩnh họ có một nguồn vốn để sản xuất, phục vụ các nhu cầu cuộc sống và trả dần qua các kỳ mở họ tiếp đó. Nghị định số 19/2019/NĐ-CP được xây dựng trên cách tiếp cận, xác định phạm vi, nội dung như sau: (1) điều chỉnh quan hệ dân sự, có sự can thiệp ở mức độ nhất định của Nhà nước; (2) không coi đây là hoạt động kinh doanh có điều kiện để đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật doanh nghiệp, đầu tư; (3)
không điều chỉnh quan hệ tín dụng để đảm bảo
phù hợp với pháp luật tín dụng.
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP có những quy định hết sức quan trọng trong việc phòng ngừa tình trạng “tín dụng đen”, thiết lập hành lang pháp lý an toàn cho các bên tham gia như sau:
Thứ nhất
, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP có những quy định mang tính nguyên tắc, điều kiện, yêu cầu thể hiện sự can thiệp ở mức độ nhất định của Nhà nước, k
hẳng định pháp luật chỉ thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ (khoản 2 Điều 3) theo quy định tại khoản 2 Điều 471 BLDS năm 2015; mặt khác, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước là không thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích kinh doanh hay tổ chức họ có tính chất chuyên nghiệp, tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ hai
,
ngoài các quy định mang tính chất kiểm soát quan hệ về họ và ghi nhận những nội dung mang tính đặc thù của tập quán này, Nghị định
số 19/2019/NĐ-CP
có các quy định đảm bảo thành viên tham gia dây họ có thể tự đảm bảo an toàn, lành mạnh cho giao dịch, tự kiểm soát trong quan hệ, phòng tránh tình trạng biến tướng của quan hệ họ thành tín dụng đen.
Thứ ba,
ngoài các quy định mang tính bắt buộc (như hình thức thỏa thuận họ phải bằng văn bản (Điều 7); điều kiện làm chủ họ, thành viên (Điều 5, Điều 6); trách nhiệm gửi thông báo về dây họ cho UBND cấp xã (Điều 14)…), các quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngoài việc ghi nhận các loại họ phổ biến trong đời sống xã hội còn có những quy định mang tính “mở”, linh hoạt như: dây họ có thể có chủ họ hoặc không có chủ họ (điểm đ khoản 1 Điều 16); các bên có thể thỏa thuận tại văn bản thỏa thuận
các “
nội dung khác
” ngoài các nội dung mang tính định hướng của Nghị định (điểm g khoản 2 Điều 8); các thành viên tham gia ngoài các quyền quy định còn có “
các quyền khác theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận về dây họ
” (điểm k khoản 1 Điều 15); chủ họ ngoài các quyền, nghĩa vụ theo quy định còn có “
các quyền khác theo thỏa thuận
” (điểm d khoản 1 Điều 17), “
các nghĩa vụ khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
” (khoản 8 Điều 18)…
Ngoài ra, các vấn đề khác có liên quan sẽ được thực hiện theo quy định chung của BLDS năm 2015; trường hợp phát sinh tranh chấp và giải quyết tại Tòa án sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Án lệ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.
4.2. Pháp luật xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hình sự
a) Pháp luật xử lý vi phạm hành chính
Sau khi Nghị định số 19/2019/NĐ-CP được ban hành, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an trong việc xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị định có những quy định quan trọng về xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về quan hệ vay tài sản. Trong đó, Điều 19 Nghị định này quy định xử phạt vi phạm quy định về họ, hụi, biêu, phường với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm trong quan hệ về họ, chủ yếu là hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ họ.
b) Pháp luật hình sự
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) có các quy định về
“tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
“tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”,
“tội cho vay lãi nặng”
(Điều 174, Điều 175, Điều 201), trong lĩnh vực tín dụng có quy định về “tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” (Điều 206).
Như vậy, có thể thấy rằng các văn bản quy phạm pháp luật đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh trong từng quan hệ; chủ thể trong từng quan hệ cho vay tài sản, theo đó
:
(1)
Hoạt động cho vay thường xuyên, như hoạt động kinh doanh phải thực hiện theo quy định của pháp luật doanh nghiệp (như kinh doanh dịch vụ cầm đồ), pháp luật tín dụng (tín dụng vi mô, tín dụng tiêu dùng).
(2)
Hoạt động cho vay không mang tính chất thường xuyên thực hiện theo quy định pháp luật dân sự; trường hợp cho vay theo tập quán thì thực hiện theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP. Các cá nhân, tổ chức không phải là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện, không phải là tổ chức tín dụng thì không được cho vay như hoạt động kinh doanh, công việc tạo ra thu nhập chính.
(3)
Pháp luật đã có quy định chế tài rõ ràng cho các hành vi vi phạm pháp luật, quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác.
5.
Các hình thức
họ
(
vay tài sản theo tập quán
)
5
.1. Các hình thức theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a) Họ không có lãi:
họ không có lãi không mang tính chất lợi ích cho các thành viên cho vay, mà chỉ mang tính chất tập hợp nguồn vốn giữa các thành viên trong dây họ, qua đó giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, các thành viên tham gia được vay, lĩnh họ tại kỳ mở họ và không phải trả lãi. Thứ tự lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ được xác định theo hình thức bốc thăm, biểu quyết, bình chọn hoặc hình thức khác do những người tham gia dây họ thỏa thuận. Trường hợp những người tham gia dây họ không có thỏa thuận thì thứ tự lĩnh họ được xác định bằng hình thức bốc thăm,
ngoài ra, các bên có thể xác định thứ tự lĩnh họ theo hình thức biểu quyết, bình chọn hoặc hình thức khác (Điều 19
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
b) Họ có lãi:
thành viên được lĩnh họ phải trả lãi cho các thành viên khác. Thành viên đã lĩnh họ có nghĩa vụ tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ. Thông thường, thành viên lĩnh họ trong từng kỳ mở họ là người đưa ra mức lãi cao nhất hoặc là người bốc thăm được thứ tự lĩnh họ (Điều 20 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP); thành viên đã lĩnh họ không được đưa ra mức lãi trong các kỳ mở họp tiếp theo, trừ trường hợp một thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ thì thành viên này có quyền đưa ra mức lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó góp họ trong một kỳ mở họ. Lãi suất trong họ có lãi cần được tuân theo quy định của pháp luật về giới hạn lãi suất.
c) Họ hưởng hoa hồng:
họ hưởng hoa hồng là họ mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ có trách nhiệm thu phần họ của các thành viên góp họ để giao cho thành viên được lĩnh họ. Thành viên được lĩnh họ phải trả lãi cho các thành viên khác và phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ. Mức hoa hồng do những người tham gia họ thoả thuận.
Ngoài ra, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP còn quy định về hình thức họ có chủ họ, họ không có chủ họ.
5.2. Hình thức trong thực tiễn
Trên thực tế, việc tổ chức, vận hành dây họ diễn ra tương đối phong phú, với nhiều dạng khác nhau, diễn ra ở nhiều nơi, nhiều nhóm cá nhân khác nhau (từ thôn, xóm, làng, bản, cụm dân cư ở nông thôn đến đô thị; từ công sở đến khu vực chợ tập trung nhiều tiểu thương; tổ chức theo nhóm chị em phụ nữ, những người có quan hệ họ hàng, những người có chung sở thích hoặc có khi đơn giản là tập hợp những cá nhân có nhu cầu vay, cho vay tài sản).
Như đã nêu, hiện nay trên thực tế còn các hình thức/mô hình tương tự như họ, ví dụ: tổ tương trợ vốn; tổ tiết kiệm vay vốn thôn bản (VSLA); nhóm tiết kiệm; nhóm tiết kiệm vay vốn thôn bản tự quản; tổ góp vốn xoay vòng; tổ phụ nữ tiết kiệm… Một số mô hình tương trợ đã được hình thành từ lâu tại các thôn, bản, cụm dân cư, do tính hiệu quả, thiết thực với người dân nên mô hình này sau đó đã được triển khai và nhân rộng tại nhiều địa phương. Các mô hình này thể hiện khá rõ nét mô hình họ theo quy định của pháp luật dân sự và việc tiếp tục vận hành các mô hình này theo pháp luật dân sự có sự
định hướng của nhà nước là có cơ sở pháp lý. Các mô hình này có những đặc điểm sau đây:
-
Về mục đích:
Cùng nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau trong nhân dân, đặc biệt là trong nhóm nghèo, khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
- Về hình thức tài sản tham gia:
là các tài sản như tiền, công nhật, vật nuôi, cây trồng…
theo tập quán.
- Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động
: đều trên cơ sở
thỏa thuận của các thành viên tham gia; cùng thoả thuận định ra số người, bầu ra Tổ trưởng/n
hóm trưởng;
chu kỳ hoạt động, số tiền, thể thức góp tài sản (có thể có lãi hoặc không có lãi);
mức vay và thứ tự ưu tiên duyệt vốn vay cho thành viên; lãi suất cho vay (nếu có); cách thức hoàn trả vốn vay; cách thức hoàn trả tài sản góp và phân chia lãi (nếu có) vào cuối chu kỳ; đóng góp vào quỹ tương trợ (nếu có); phụ cấp cho tổ/nhóm trưởng (nếu có)…;
quyền, nghĩa vụ của các thành
viên tham gia;
các nhóm được tổ thức theo cách thức có hoặc không có người quản lý/đứng đầu
…
- Một số điểm đặc thù
: bên cạnh những điểm tương đồng, một số tổ/nhóm trên thực tế còn có những đặc điểm riêng, ví dụ:
+ Tổ/nhóm vận hành trên cơ sở thỏa thuận rõ ràng về cách thức góp tiền, vay tiền, lãi suất giữa các thành viên tham gia. Các thành viên có thể cùng nhau xây dựng quy tắc, thủ tục tương trợ vốn trong đó có việc (i) hai hay nhiều hơn thành viên có thể nhận tương trợ trong một chu kỳ hoạt động hoặc (ii) có thành viên chỉ góp vốn mà không vay tiền hoặc (iii) có thành viên vay nhiều lần trong nhiều chu kỳ miễn là đáp ứng được nghĩa vụ trả lại vốn tương trợ trong kỳ hoạt động; các thành viên cùng quyết định việc xem xét tương trợ cho ai theo điều kiện, nhu cầu và khả năng trả lại vốn tương trợ.
+ Có những địa bàn người dân tham gia các nhóm, tổ với số lượng thành viên ít, quen biết nhau lâu năm, có sự tin tưởng nhau nên chỉ sử dụng một Quy chế cho nhiều chu kỳ, vòng vay vốn (giống nhau về thành viên, thời gian, cách thức tham gia)
. Tương tự, các văn bản khác như sổ họ, giấy biên nhận… thể hiện bằng các tên gọi khác nhau như cổ phần, sổ góp vốn (không hoàn toàn đúng tên gọi như quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
Mặc dù có những phiên bản trên thực tế không hoàn toàn trùng khít với mô hình họ nhưng điều này không ảnh hưởng bởi như đã đề cập ở trên, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP là cơ chế “mở”, tôn trọng nội dung thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ, các quy định khác của BLDS năm 2015 cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh.
----------------------------------------------
PHẦN II.
HÌNH THÀNH DÂY HỌ
1. Về chủ họ, tổ/nhóm trưởng
1.1. Điều kiện làm chủ họ, cách thức xác định chủ họ theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a) Điều kiện làm chủ họ
(khoản 1 Điều 6
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, Điều 22, 23, 24 BLDS năm 2015
)
:
- Là người từ
đủ 18 tuổi trở lên: nghĩa là từ ngày tròn 18 tuổi về sau (ví dụ: Nguyễn Văn A sinh ngày 20/6/2001 thì từ ngày 20/6/2019 sẽ được xem là từ đủ 18 tuổi trở lên).
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự:
tức là không thuộc trường hợp bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS năm 2015).
- Không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: tức là không thuộc trường hợp nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 BLDS năm 2015).
- Không bị
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: tức là không thuộc trường hợp do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự, và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23 BLDS năm 2015). Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vẫn có năng lực thể hiện ý chí nhưng việc thể hiện khó khăn hơn người bình thường, thường là nhóm người cao tuổi bị lão hóa hay mắc các bệnh khác dẫn đến trí nhớ, nhận thức bị sa sút nhưng nếu được giúp đỡ với phương pháp phù hợp thì vẫn có thể biểu hiện được ý chí của mình.
- Điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ tại địa phương: đây là quy định mang tính mở, để các thành viên bầu ra Chủ họ phù hợp với tính chất, đặc điểm, kỳ vọng của các thành viên.
b) Cách thức xác định chủ họ
, chủ họ là người tổ chức dây họ thì người đó tự xác định chủ họ, các cá nhân khác chấp nhận thì tham gia làm thành viên. Trường hợp các thành viên tự tổ chức dây họ thì chủ họ là người được hơn một nửa (1/2) tổng số thành viên bầu, trừ trường hợp các thành viên có thỏa thuận khác (khoản 2 Điều 6
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
).
c) Chủ
họ có thể đồng thời là thành viên của dây họ
(khoản 3 Điều 4 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP):
như vậy một người có thể có hai vai trò, vừa là người tổ chức, quản lý dây họ, vừa là thành viên được lĩnh họ.
d) Một số điểm lưu ý
- Theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, dây họ có thể có chủ họ hoặc không có chủ họ (điểm đ khoản 1 Điều 16).
- Pháp luật không có quy định giới hạn một người có thể cùng lúc làm chủ họ bao
nhiêu dây họ nhưng cũng không khuyến khích một cá nhân làm chủ họ nhiều dây họ đồng thời.
- Trường hợp chủ họ không đảm bảo điều kiện về năng lực chủ thể như trên thì áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 về giao dịch vô hiệu do không đủ năng lực pháp luật (khoản 1 Điều 117, Điều 122), hậu quả pháp lý, trách nhiệm của các chủ thể (Điều 131) để giải quyết.
- Nghị định số 19/2019/NĐ-CP chưa quy định về điều kiện khả năng tài chính của chủ họ nhưng đã có quy định về việc các bên có thể thỏa thuận biện pháp bảo đảm (điểm c
khoản 2 Điều 8); trách nhiệm pháp lý của các bên khi vi phạm nghĩa vụ (Điều 22 đến Điều 25).
1.2. Theo thực tế tại địa phương
a)
Đối với dây họ truyền thống, trên thực tế, chủ họ thường là người có lý lịch tốt (như chưa từng vay mượn không trả, dính líu kiện tụng, chưa có tiền án, tiền sử…); có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; có điều kiện kinh tế (như có nhà, đất, tài sản khác); những cá nhân này mới có đủ uy tín, niềm tin để các thành viên tham gia dây họ yên tâm khi tham gia trong suốt thời gian diễn ra dây họ. Kinh nghiệm cho thấy, mặc dù pháp luật không cấm, nhưng những chủ họ tổ chức cùng lúc nhiều dây họ đông thành viên, giá trị lớn, không quản lý rất dễ bị mất khả năng thanh toán, không chi trả cho thành viên nên người dân thường chọn những chủ họ uy tín, làm chủ một lúc ít dây họ, có thông tin minh bạch.
b)
Đối với các tổ/nhóm tương trợ vốn, các tổ/nhóm trưởng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động, đảm bảo điều hành các hoạt động của dây họ, do đó, trên thực tế người đảm nhận vị trí này được yêu cầu các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể hơn so với các điều kiện chung theo quy định của pháp luật như:
- Có uy tín cao trong cộng đồng, được các thành viên tôn trọng và tin tưởng;
- Sinh sống trên địa bàn và hiểu rõ hoàn cảnh của các thành viên;
- Có khả năng tổ chức, điều hành cuộc họp; khả năng trình bày vấn đề một cách tự tin, mạch lạc, dễ hiểu;
- Có khả năng giao tiếp, kết nối tốt, biết lắng nghe ý kiến và đối xử công bằng;
- Tuân thủ kỷ luật tốt.
Tại nhiều địa phương, các thành viên trong tổ/nhóm thường hay lựa chọn những cán bộ, hoặc nguyên cán bộ chi, tổ của Hội đoàn thể, là người có uy tín, kinh nghiệm hoạt động cộng đồng.
2. Về thành viên
2.1. Điều kiện làm thành viên theo quy định
của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
- Là người từ
đủ 18 tuổi trở lên;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Không bị
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
(Nội dung cụ thể của 4 điều kiện nói trên đã được thể hiện tại mục 1)
- Đối với
người từ đủ 15 tuổi - dưới 18 tuổi nếu có tài sản riêng có thể là thành viên của dây họ, trường hợp sử dụng tài sản riêng là bất động sản, động sản phải đăng ký để tham gia dây họ thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
.
- Điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ:
các thành viên trong dây họ có thể thoả thuận một số điều kiện khác ngoài các quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP (như điều kiện tương đồng về nghề nghiệp, sở thích, nơi cư trú… ) với yêu cầu đảm bảo điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
- Pháp luật dân sự không có quy định giới hạn về số lượng thành viên của dây họ.
2.2. Theo thực tế tại địa phương
a)
Trên thực tế, tùy theo tình hình từng địa phương, mục đích hình thành các tổ, nhóm…, các thành viên thường thỏa thuận điều kiện tham gia dây họ như:
- Sinh sống lân cận nhau trên cùng địa bàn thôn, xóm, biết rõ về nhau;
- Các thành viên có khả năng hợp tác với các thành viên khác; không kết nạp những cá nhân có tính cách hoặc lịch sử đời sống dễ gây mâu thuẫn, mất đoàn kết hoặc xung đột với người xung quanh;
- Là người trung thực, biết chia sẻ;
- Là người không có lịch sử nợ nần, chây ỳ trong hoàn trả các khoản vốn vay;
- Được các thành viên của tổ/nhóm hiện có giới thiệu.
b)
Mặc dù pháp luật dân sự không có quy định giới hạn về số lượng thành viên của dây họ nhưng kinh nghiệm cho thấy để đảm bảo an toàn pháp lý, không nên tham gia dây họ quá đông thành viên, các thành viên không biết thông tin lẫn nhau. Người dân nên tham gia những dây họ có sự rõ ràng về thông tin, năng lực chủ thể, năng lực tài chính của chủ họ và cả của những thành viên khác.
3. Về thỏa thuận dây họ
3.1.
Theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a)
Thỏa thuận
dây họ
(Điều 7 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP):
theo quy định của pháp luật dân sự, thỏa thuận về dây họ bản chất là hợp đồng được giao kết giữa các bên tham gia (chủ họ, các thành viên), phải được thể hiện bằng văn bản. Pháp luật không bắt buộc phải công chứng, chứng thực mà có thể công chứng, chứng thực theo yêu cầu của
những người tham gia dây họ.
Trường hợp cần
sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về dây họ thì nội dung sửa đổi, bổ sung phải được thực hiện theo hình thức của văn bản ban đầu đã được xác lập, tức là phải được lập thành văn bản và công chứng, chứng thực (nếu thỏa thuận về dây họ trước đó đã được công chứng, chứng thực).
Quy định của pháp luật không hạn chế việc sử dụng phương thức giao dịch điện tử. Điều 119 BLDS năm 2015 đã quy định “
Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể
”, “
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản
”. Như vậy, việc các bên xác lập quan hệ về họ trên môi trường kỹ thuật số về bản chất vẫn là giao dịch bằng hình thức văn bản và pháp luật đã có quy định cụ thể điều chỉnh.
Như vậy, trường hợp các bên xác lập dây họ không theo hình thức văn bản thì được coi là không đảm bảo tuân thủ về hình thức của giao dịch. Trong trường hợp này, hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 117, khoản 2 Điều 119, Điều 129 BLDS năm 2015.
b) Nội dung văn bản thỏa thuận về dây họ
Theo quy định
tại
khoản 1
Điều 8
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, văn bản thỏa thuận về dây họ phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
(1) Họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu; ngày, tháng, năm sinh; nơi cư trú của chủ họ (nơi chủ họ thường xuyên sinh sống hoặc nơi đang sinh sống nếu không xác định được nơi thường xuyên sinh sống);
(2) Số lượng thành viên, họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của từng thành viên;
(3) Phần họ;
(4) Thời gian diễn ra dây họ, kỳ mở họ;
(5) Thể thức góp họ, lĩnh họ;
Ngoài các nội dung trên, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định mang tính tùy nghi theo hướng tùy vào hình thức họ (có lãi, không có lãi, hoa hồng,..) mà văn bản thỏa thuận về dây họ có thể có những nội dung sau đây:
(6) Mức hưởng hoa hồng của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng;
(7) Lãi suất trong họ có lãi;
(8) Trách nhiệm ký quỹ hoặc biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác của chủ họ;
(9) Việc chuyển giao phần họ;
(10) Gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ;
(11) Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ;
(12) Nội dung khác theo thỏa thuận.
* Một số điểm lưu ý:
Để đảm bảo tính an toàn, tránh việc chủ họ không chi trả tiền cho các thành viên, các bên tham gia dây họ có thể thỏa thuận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chủ họ bằng “
trách nhiệm ký quỹ hoặc biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác của chủ họ
” (điểm c khoản 2 Điều 8).
c) Gia nhập dây họ
(Điều 9 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP):
Một người có thể trở thành thành viên mới của dây họ khi:
- Có sự đồng ý của chủ họ và tất cả các thành viên: được thể hiện bằng việc chủ họ và tất cả các thành viên ký tên (hoặc điểm chỉ) đồng ý.
- Góp đầy đủ các phần họ theo thỏa thuận tính đến thời điểm tham gia: có nghĩa là
góp tiền hoặc tài sản khác theo quy định của tổ/nhóm hoặc theo thỏa thuận tại mỗi kỳ mở họ.
3.2. Theo thực tế tại địa phương
a)
Đối với dây họ truyền thống, thực tế cho thấy nhiều dây họ không được hình thành trên cơ sở văn bản thỏa thuận được giao kết giữa những người tham gia mà do chủ họ tổ chức, gợi ý các thành viên tham gia hoặc các thành viên tự tìm đến với chủ họ; chủ họ mở sổ họ ghi tên thành viên tham gia vào. Các bên không tự xem xét năng lực chủ thể (về độ tuổi, khả năng nhận thức ..) của nhau. Nhiều trường hợp, thành viên tham gia không ký và không nhận được văn bản thỏa thuận về dây họ; không biết các thành viên khác, không biết số lượng thành viên tham gia dây họ mà chỉ quan tâm đến mối quan hệ của mình đối với chủ họ. Kinh nghiệm cho thấy, những dây họ như trên tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, an
toàn pháp lý của quan hệ về họ và người dân nên thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng khi tham gia.
b)
Đối với các tổ/nhóm tương trợ, thỏa thuận tham gia tổ nhóm được thực hiện khá mềm dẻo và dưới nhiều hình thức, có thể dưới hình thức văn bản với tên gọi Quy chế/Nội quy hoạt động của tổ/nhóm, thậm chí sử dụng một bản Quy chế/Nội quy cho nhiều chu kỳ; hoặc chỉ là trao đổi thống nhất trong họp tổ; hoặc tin nhắn chung trên nhóm zalo đối với các nhóm có số lượng thành viên ít, quen biết nhau lâu dài.
Đối với hình thức văn bản, các thành viên trao đổi, thống nhất và ký xác nhận thông qua vào thời điểm bắt đầu mỗi chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm (thông thường không yêu cầu công chứng, chứng thực). Các thành viên được yêu cầu ghi nhớ và tuân thủ đầy đủ các qui định được ghi trong Quy chế/Nội quy. Đối với hình thức tin nhắn qua zalo, các thành viên thường đọc và nhắn tin xác nhận đã đọc.
Do chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm thường chỉ 10- 12 tháng, do vậy việc sửa đổi, bổ sung quy chế hoạt động của tổ/nhóm thường không phát sinh trong kỳ. Việc rà soát các nội dung của Quy chế/Nội quy diễn ra tại cuộc họp tổng kết chu kỳ của tổ/nhóm. Nếu cần sửa đổi, bổ sung Quy chế/Nội quy hiện tại, các thành viên sẽ thống nhất và hoàn thiện Quy chế/Nội quy hoạt động của tổ/nhóm cho chu kỳ mới.
c)
Quy chế có những nội dung cơ bản như Văn bản thoả thuận về dây họ theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Trên thực tế, đa số các tổ/nhóm khi xây dựng Quy chế/Nội quy thường bao gồm các nội dung sau:
- Tên tổ/nhóm, ngày thành lập, địa chỉ (Thôn/bản, xã, tỉnh);
- Số lượng thành viên tham gia, thời gian và địa điểm họp định kỳ/đột xuất;
- Chu kỳ góp vốn, phần vốn góp, thể thức góp và hoàn trả số vốn góp (bao gồm cả qui định về xử lý hoàn trả phần vốn góp trong trường hợp thành viên rời khỏi tổ/nhóm hoặc qua đời);
- Mức vốn vay tối đa/lần; lãi suất, lãi suất quá hạn (tính quá hạn nếu hết chu kỳ vẫn chưa trả được); thời hạn và phương thức hoàn trả gốc, lãi; mục đích sử dụng vốn vay;
- Đóng góp Quỹ Tương trợ (để hỗ trợ thăm hỏi ốm đau, hiếu hỉ…) (nếu có);
- Chi bồi dưỡng cho tổ/nhóm trưởng (nếu có);
- Cơ chế báo cáo cho cán bộ quản lý dự án, tổ chức chính trị - xã hội (nếu do hội hướng dẫn triển khai), chính quyền địa phương (ở mô hình tổ/nhóm được hình thành có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phi chính phủ trong nước thông qua các dự án với chính quyền địa phương và hội phụ nữ cơ sở);
- Danh sách các thành viên tham gia và ký xác nhận đã hiểu và đồng ý thực hiện đầy đủ các nội dung Quy chế.
Thực tế cho thấy, cơ quan tư pháp ở địa phương, các tổ chức hành nghề công chứng hầu như không nhận được hoặc rất
ít khi nhận được yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản có nội dung thoả thuận về dây họ.
4. Tài sản
4.1. Theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định
tài sản tham gia dây họ là số tiền hoặc tài sản khác, tức là không giới hạn loại tài sản (khoản 4 Điều 4).
Như vậy, pháp luật hiện nay mở rộng loại tài sản mà thành viên có thể góp tại mỗi kỳ mở họ. Tuy nhiên, thành viên tham gia cũng phải tuân theo các nguyên tắc và thỏa thuận của các thành viên trong họ về việc cho phép dùng tài sản gì để góp. Đồng thời, tài sản tham gia dây họ không được vi phạm quy định của pháp luật, không thuộc các trường hợp hàng hóa cấm kinh doanh (vũ khí, ma túy…) hoặc hạn chế kinh doanh (súng săn, vật liệu nổ…).
4.2. Theo thực tế tại địa phương
Tài sản góp tại mỗi kỳ họ trên thực tế rất đa dạng, tùy theo thỏa thuận của các thành viên. Bên cạnh các tài sản như tiền (phổ biến), thì còn có các loại khác như công nhật, lương thực… tùy thuộc thỏa thuận của các bên tham gia.
----------------------------------------------
PHẦN III.
HOẠT ĐỘNG CỦA DÂY HỌ VÀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN
1. Thông báo về việc tổ chức dây họ
Nghị định
số 19/2019/NĐ-CP
quy định
về việc thông báo về dây họ nhằm góp phần giúp chính quyền cơ sở nắm bắt tình hình, diễn biến và giám sát quan hệ về họ; giúp chính quyền theo dõi tình hình, có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế được tình trạng vỡ họ gây mất trật tự ở địa phương. Cụ thể
:
1.1.
Về trường hợp phải thông báo,
Điều 14, khoản 6 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định
chủ họ phải thông báo bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
(1)
Tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên;
(2)
Tổ chức từ hai dây họ trở lên.
Trường hợp thông tin về dây họ đã được thông báo mà có sự thay đổi thì chủ họ phải thông báo bổ sung bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi cư trú về việc thay đổi đó.
Trong trường hợp chủ họ không thực hiện nghĩa vụ trên thì thành viên có quyền thực hiện việc thông báo (điểm i khoản 1 Điều 15
Nghị định
số 19/2019/NĐ-CP).
1.2.
Nội dung văn bản thông báo cần có:
(1) Họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của chủ họ;
(2) Thời gian bắt đầu và kết thúc dây họ;
(3) Tổng giá trị các phần họ tại kỳ mở họ;
(4) Tổng số thành viên.
1.3.
Chủ họ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP nếu không thực hiện nghĩa vụ nêu trên với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
2. Về việc lập, quản lý sổ họ, giấy biên nhận
Điều 12, Điều 13 Nghị định quy định về sổ họ, giấy biên nhận nhằm hướng dẫn để các bên đưa vào các nội dung tại sổ họ đảm bảo ghi nhận đúng các giao dịch đã diễn ra trong quan hệ về họ; tôn trọng tối đa sự thỏa thuận của các bên, đồng thời quy định để đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong quan hệ giữa các bên, làm căn cứ để giải quyết tranh chấp…
2.1. Sổ họ:
Chủ họ phải lập và giữ sổ họ, trừ trường hợp có thỏa thuận về việc một thành viên lập và giữ sổ họ. Trường hợp dây họ không có chủ họ thì các thành viên thỏa thuận giao cho một thành viên lập và giữ sổ họ (Điều 12 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
2.2.
Giấy biên nhận
:
chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận cho thành viên khi
góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan (Điều 13 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP).
3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên
3.1. Theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a)
Về quyền của thành viên
(Điều 15
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
-
Quyền của
thành viên trong họ không có lãi:
(1) Góp một hoặc nhiều phần họ trong một kỳ mở họ;
(2) Lĩnh họ;
(3) Chuyển giao một phần hoặc toàn bộ phần họ cho người khác theo quy định tại BLDS;
(4) Yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ;
(5) Yêu cầu chủ họ trả phần họ của thành viên không góp phần họ đúng hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
(6) Yêu cầu chủ họ thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ họ quy định tại
Điều 18 của
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP;
(7) Yêu cầu thành viên khác thực hiện nghĩa vụ của thành viên quy định tại
Điều 16 của
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP;
(8) Yêu cầu được công chứng, chứng thực văn bản thoả thuận về dây họ;
(9) Đồng ý cho thành viên mới tham gia dây họ;
(10) Được rút khỏi dây họ và được nhận lại các phần họ theo thỏa thuận theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP;
(11) Được bồi thường nếu thành viên rút khỏi dây họ gây thiệt hại;
(12) Yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan;
(13) Thực hiện việc thông báo về việc tổ chức dây họ với UBND cấp xã theo quy định tại
Điều 14 của
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP trong trường hợp chủ họ không thực hiện;
(14)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận về dây họ.
-
Quyền của thành viên trong họ có lãi:
(1) Các quyền tương tự như thành viên trong họ không có lãi;
(2) Đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở họ, trừ trường hợp là thành viên đã lĩnh họ sẽ không được đưa ra mức lãi trong các kỳ mở họ tiếp theo;
Trường hợp một thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ thì thành viên này có quyền đưa ra mức lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó góp họ trong một kỳ mở họ;
(3) Được lĩnh họ trước các thành viên khác nếu đưa ra mức lãi cao nhất tại kỳ mở họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
(4) Hưởng lãi từ thành viên lĩnh họ.
-
Quyền của thành viên trong họ hưởng hoa hồng:
(1) Các quyền tương tự như thành viên họ không có lãi nếu thuộc trường hợp họ
không có lãi hoặc các quyền tương tự như thành viên họ có lãi nếu thuộc trường hợp họ có lãi;
(2) Thỏa thuận về mức hưởng hoa hồng của chủ họ.
b) Về nghĩa vụ của thành viên
(Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Nghĩa vụ của thành viên trong họ không có lãi:
(1) Góp phần họ theo thoả thuận;
(2) Thông báo về nơi cư trú mới trong trường hợp có thay đổi cho những người tham gia dây họ;
(3) Tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ trong trường hợp đã lĩnh họ trước thành viên khác;
(4) Góp các phần họ chưa góp và giao cho chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ (trong trường hợp không có chủ họ) khi rút khỏi dây họ mà đã lĩnh họ;
(5) Khi rút khỏi dây họ phải hoàn trả một phần tiền lãi đã nhận (nếu có) và thực hiện nghĩa vụ khác theo thỏa thuận; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại BLDS năm 2015;
(6) Thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận về dây họ và quy định tại BLDS khi dây họ chấm dứt;
(7) Trong trường hợp không có chủ họ thì thành viên được giao lập và giữ sổ họ có các nghĩa vụ theo thỏa thuận và theo quy định tại
khoản 1 Điều 12
của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP; để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu; gửi thông báo với UBND cấp xã theo quy định tại
khoản 1 Điều 14 của
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP.
- Nghĩa vụ của thành viên trong họ có lãi:
(1)
Các nghĩa vụ tương tự như thành viên trong họ không có lãi;
(2)
Trả lãi cho các thành viên chưa lĩnh họ khi được lĩnh họ.
- Nghĩa vụ của thành viên trong họ hưởng hoa hồng:
(1)
Các nghĩa vụ tương tự như thành viên họ không có lãi nếu thuộc trường hợp họ không có lãi hoặc các nghĩa vụ tương tự như thành viên họ có lãi nếu thuộc trường hợp họ có lãi;
(2)
Trả khoản hoa hồng cho chủ họ khi lĩnh họ theo thỏa thuận.
3.2. Một số quyền và nghĩa vụ của thành viên trên thực tế
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ghi nhận thỏa thuận về dây họ có thể có “
nội dung khác theo thỏa thuận
” (điểm g khoản 2 Điều 8), thành viên có “
các quyền khác theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận về dây họ
” (điểm k khoản 1 Điều 15). Từ quy định mang tính chất mở nêu trên, trên thực tế, khi người dân khi tham gia các tổ/nhóm thường còn có các nhu cầu trao đổi về kinh nghiệm cuộc sống, sản xuất kinh doanh… vì vậy, các thành viên còn có một số quyền và nghĩa vụ đặc thù, phù hợp với các mô hình trên thực tiễn. Chẳng hạn:
- Về quyền của thành viên:
+ Được tham gia góp vốn và nhận hỗ trợ vốn theo quy chế của tổ/nhóm;
+ Được thông tin đầy đủ về thu, chi và số dư quỹ tại các cuộc họp;
+ Được phát biểu ý kiến tại các cuộc họp và thực hiện quyền biểu quyết bình chọn người được vay;
+ Được tham gia bình đẳng vào quá trình ra quyết định của tổ/nhóm (bao gồm cả xét duyệt cho vay) bằng một phiếu biểu quyết cho mỗi thành viên;
+ Được chia sẻ các kiến thức và kỹ năng về sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực khác (như chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng…) với các thành viên của tổ/nhóm;
+ Thành viên có quyền rời khỏi tổ/nhóm khi có nhu cầu sau khi hoàn thành các trách nhiệm với tổ/nhóm (nếu có), được nhận lại số tiền đóng góp và tiền lãi theo quy chế.
- Về nghĩa vụ của thành viên:
+ Tham gia đầy đủ và đúng giờ các cuộc họp định kỳ và đột xuất (nếu có) của tổ/nhóm;
+ Đóng họ đầy đủ, đúng hạn;
+ Hoàn trả gốc vốn nhận hỗ trợ và tiền lãi theo Quy chế của tổ/nhóm;
+
Thông báo về nơi cư trú mới trong trường hợp có thay đổi nơi ở cho các thành viên, tổ trưởng/nhóm trưởng trong tổ/nhóm.
3.3. Quyền và trách nhiệm của các thành viên khác trong tổ/nhóm trên thực tế (như Thủ quỹ, thư ký…)
Tại nhiều địa phương, các tổ/nhóm thường lập ra Ban Quản lý có trách nhiệm điều hành các hoạt động của tổ/nhóm, bao gồm Tổ trưởng, Thư ký, Thủ quỹ; thành viên Ban quản lý và các thành viên trong tổ/nhóm được giao quản lý tiền của các thành viên góp. Các thành viên trong Ban Quản lý thường cũng là các thành viên tham gia dây họ, tổ/nhóm và được đa số các thành viên trong tổ/nhóm thống nhất lựa chọn hoặc bầu. Người giữ vị trí Thư ký, Thủ quỹ ngoài việc có quyền, nghĩa vụ của thành viên thường còn có quyền, trách nhiệm sau:
- Quyền của Thư ký:
+
Nhận thù lao (nếu có);
+ Từ chối tiếp tục vị trí Thư ký khi có lý do.
- Trách nhiệm của Thư ký:
+ Ghi chép thông tin và số liệu vào sổ thành viên và sổ tổng hợp của tổ/nhóm;
+ Đối chiếu các thông tin và số liệu giữa các sổ với số dư quỹ hiện có của tổ/nhóm;
+ Công khai thông tin về thu chi và thực tồn quỹ cho các thành viên trong các cuộc họp Tổ.
- Quyền của Thủ quỹ:
+
Nhận thù lao (nếu có);
+ Từ chối tiếp tục vị trí Thủ quỹ khi có lý do.
- Trách nhiệm của Thủ quỹ
+ Quản lý tài sản cho tổ/nhóm;
+ Đối chiếu số thu chi và thực tồn quỹ.
4. Quyền và nghĩa vụ của chủ họ
4.1. Theo quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a) Về quyền của chủ họ (
Điều 17 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Quyền của chủ họ trong họ không có lãi
(1) Thu phần họ của các thành viên;
(2) Yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó;
(3) Các quyền của thành viên tham gia dây họ không có lãi;
(4) Các quyền khác theo thỏa thuận.
- Quyền của chủ họ trong họ có lãi
(1) Các quyền của chủ họ trong dây họ không có lãi;
(2) Lĩnh các phần họ trong kỳ mở họ đầu tiên và không phải trả lãi cho các thành viên khác trong trường hợp chủ họ đồng thời là thành viên, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Quyền của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng
(1) Các quyền của chủ họ trong dây họ không có lãi hoặc các quyền của chủ họ trong dây họ có lãi;
(2) Được hưởng hoa hồng từ thành viên lĩnh họ.
b) Về nghĩa vụ của chủ họ
(Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
(1) Thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi;
(2) Thông báo đầy đủ về số lượng dây họ; phần họ, kỳ mở họ; số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ;
(3) Giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ;
(4) Nộp thay phần họ của thành viên nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
(5) Để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu;
(6) Gửi thông báo cho UBND cấp xã theo quy định;
(7) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
(8) Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
4.2. Một số quyền và nghĩa vụ của chủ họ, tổ/nhóm trưởng trên thực tế
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ghi nhận thỏa thuận về dây họ có thể có “
nội dung khác theo thỏa thuận
” (điểm g khoản 2 Điều 8), chủ họ có “
c
ác quyền khác theo thỏa thuận
”, “
các nghĩa vụ khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
” (điểm d khoản 1 Điều 17, khoản 8 Điều 18). Từ quy định mang tính chất mở nêu trên, trên thực tế, căn cứ vào tình hình, nhu cầu của các thành viên và đặc thù kinh tế - xã hội của địa phương, chủ họ, tổ/nhóm trưởng còn có một số quyền và nghĩa vụ sau đây:
a)
Trong các dây họ truyền thống, chủ họ thường có vai trò chủ động, quyết định về luật chơi, cách chơi như có quyền đưa ra nội dung thỏa thuận mẫu, điều kiện tham gia dây họ, lựa chọn hoặc chấp nhận thành viên nào được tham gia, thiết kê thời gian tồn tại dây họ, số kỳ mở họ, giá trị phần họ; về trách nhiệm, các chủ họ thường là người phải đôn đốc, nhắc nhở các thành viên góp họ đúng thời gian, giữ mối liên hệ vơi các thành viên.
b)
Tại các tổ/nhóm vay vốn, tổ/nhóm trưởng có một số quyền, nghĩa vụ sau:
-
Quyền của tổ/nhóm trưởng:
+ Triệu tập họp định kỳ, đột xuất (nếu cần) và điều hành các hoạt động của tổ/nhóm đảm bảo tuân thủ đúng Quy chế, bao gồm hoạt động góp vốn định kỳ và bình xét thành viên được vay vốn (trong trường hợp nhu cầu vay cao hơn số dư tồn quỹ hiện có), thu hồi vốn gốc và lãi và các hoạt động khác;
+ Được nhận thù lao (nếu có);
+ Tiếp tục hoặc thôi vị trí Tổ trưởng.
-
Nghĩa vụ của tổ/nhóm trưởng:
+ Báo cáo kết quả hoạt động của tổ/nhóm trước các thành viên tổ/nhóm và các cơ quan, tổ chức có liên quan;
+ Đại diện cho tổ/nhóm làm việc với các cơ quan, tổ chức có liên quan.
5. Về đóng góp phần họ, lĩnh họ
5.1. Theo quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
a) Đối với hình thức họ không có lãi
(Điều 19 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Thứ tự lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ được xác định theo hình thức bốc thăm, biểu quyết, bình chọn hoặc hình thức khác do những người tham gia dây họ thỏa thuận.
- Trường hợp những người tham gia dây họ không có thỏa thuận thì thứ tự lĩnh họ được xác định bằng hình thức bốc thăm.
b) Đối với hình thức họ có lãi
(Điều 20 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Thành viên lĩnh họ trong từng kỳ mở họ là người đưa ra mức lãi cao nhất, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Trong một kỳ mở họ mà có nhiều thành viên cùng trả một mức lãi và mức lãi đó là mức lãi cao nhất thì những người này bốc thăm để xác định thành viên lĩnh họ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Thành viên đã lĩnh họ không được đưa ra mức lãi trong các kỳ mở họ tiếp theo, trừ trường hợp thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ.
- Trường hợp một thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ thì thành viên này có quyền đưa ra mức lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó góp họ trong một kỳ mở họ.
5.2.
Một số cách thức trong thực tiễn
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ghi nhận thỏa thuận về dây họ có thể có “
nội dung khác theo thỏa thuận
” (điểm g khoản 2 Điều 8). Từ quy định mang tính chất linh hoạt này, việc góp họ, xác định thứ tự lĩnh họ có một số điểm đặc thù như:
a)
Đối với các dây họ truyền thống, có một số dây họ vận hành theo cách chủ họ quyết định, lựa chọn việc xác định ai là người lĩnh họ trước. Về giá trị phần họ, thường các bên tham gia xác định phần họ cố định của mỗi một dây họ, áp dụng từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, mỗi một kỳ mở họ thành viên nào cũng góp một phần họ bằng nhau. Về cách thức góp họ có thể có các cách như nộp trực tiếp, chuyển khoản, nhờ người khác nộp cho chủ họ.
b)
Đối với các nhóm tương trợ vốn,
nguồn vốn cho vay của tổ/nhóm chủ yếu được hình thành từ các khoản tiền được thành viên góp định kỳ tại các cuộc họp tổ/nhóm (định kỳ theo tuần hoặc tháng) và các thành viên bình chọn, họp xét thành viên được vay. Việc góp tài sản (không giới hạn số cổ phần, phiếu tiết kiệm) thường được khuyến khích góp nhiều vào kỳ đầu tiên để hình thành vốn; ở các kỳ tiếp theo thường các tổ/nhóm giới hạn số lượng phần vốn góp, cổ phần, phiếu tiết kiệm tối đa mà mỗi thành viên được góp. Một số tổ/nhóm có thể có nguồn vốn khác mà tổ/nhóm được quyền quản lý và sử dụng như vốn tài trợ ban đầu từ Dự án hỗ trợ cộng đồng (thường khoảng 5 triệu đến 10 triệu đồng).
Về vay vốn: chỉ thành
viên tham gia tổ/nhóm mới được phép vay vốn và chỉ được vay khi các thành viên trong tổ/nhóm thống nhất thông qua. Mức vốn vay theo quy chế tổ/nhóm đã thống nhất. Trên thực tế, nhiều tổ /nhóm qui định mức vay tối so với số tổng số tiền thành viên góp, tuy nhiên cũng có tổ/nhóm không quy định mức cho vay tối đa mà chủ yếu chỉ cân đối giữa nhu cầu vay của các thành viên và nguồn tiền sẵn có của tổ/nhóm tại kỳ họp đó. Việc lựa chọn thành viên cho vay được thực hiện công khai ngay tại cuộc họp, trước sự chứng kiến của tất cả các thành viên dự họp.
Việc ưu tiên bình chọn cho vay căn cứ vào mục đích vay vốn
. Với mục đích tương trợ, việc bình chọn cho vay được ưu tiên theo thứ tự:
(1)
Vay cho mục đích khẩn cấp (đi khám chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi, đóng học phí cho con);
(2)
Vay cho mục đích kinh doanh tạo thu nhập;
(3)
Vay cho mục đích tiêu dùng khác (mua bảo hiểm tự nguyện, sửa chữa nhà cửa, mua vật dụng gia đình….).
Thời hạn vay vốn
do tổ/nhóm quy định tại quy chế nhưng không quá thời gian tối đa cho một chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm (không quá 12 tháng). Những thành viên vay vốn càng gần ngày kết thúc chu kỳ thì thời hạn vay càng ngắn. Thường các tổ/nhóm khuyến khích thành viên vay vốn thời hạn ngắn để đảm bảo an toàn và hiệu quả sử dụng vốn của tổ/nhóm cũng như giúp nhiều thành viên có cơ hội vay hơn.
Việc hoàn trả lãi vốn vay
do tổ/nhóm quy định tại quy chế, hầu hết các tổ/nhóm quy định hoàn trả lãi vay theo tháng. Gốc vốn vay có thể trả định kỳ hàng tháng hoặc trả khi đến hạn. Thành viên có thể trả gốc và lãi trước hạn mà không phải chịu bất kỳ khoản phí trả trước hạn nào.
Cuối mỗi chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm, thành viên được nhận lại vốn đã góp và một phần tiền lãi từ hoạt động cho vay vốn của tổ/nhóm. Tiền lãi được chia căn cứ vào số vốn đóng góp của mỗi thành viên.
6. Lãi suất
Các quy định về lãi suất trong giao dịch về họ để đảm bảo tính tương thích với quy định của BLDS năm 2015, cũng như đảm bảo phù hợp với đặc thù của giao dịch này.
Điều 21 và Điều 22
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
quy định về giới hạn lãi suất trong họ có lãi; xác định người phải chịu trách nhiệm trả lãi, mức lãi phải gánh chịu trong trường hợp không góp, giao hoặc góp, giao phần họ không đầy đủ nhằm đảm bảo thực hiện đúng các quy định tại Điều 357, Điều 466, Điều 468 và khoản 3 Điều 471 BLDS năm 2015.
6.1. Lãi suất lĩnh họ trong họ có lãi
(Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ. Trường hợp mức lãi suất giới hạn nói trên được điều chỉnh bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định
của
BLDS năm 2015 thì áp dụng mức lãi suất giới hạn được điều chỉnh đó.
Công thức tính lãi suất trong họ có lãi (Điều 21) như sau:
Lãi họ = (tổng giá trị các phần họ phải góp – giá trị các phần họ đã góp) x lãi suất thỏa thuận (≤ 20%/năm) x thời gian còn lại của dây.
- Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn (20%/năm) thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực pháp luật.
Cách tính lãi suất như trên
thể hiện đúng đặc thù của quan hệ về họ, giải quyết được lúng túng, khó khăn trong việc xác định xác định thời điểm để tính lãi, khoảng thời gian tính lãi và số tiền phải chịu lãi; theo đó, mỗi thành viên từ thời điểm bắt đầu dây họ đến thời điểm được lĩnh họ là người cho vay, tại thời điểm lĩnh họ đến khi kết thúc dây họ là người đi vay, như vậy, số tiền vay bằng tổng số phần họ phải góp của mỗi thành viên đó trừ đi số phần đã góp, thời gian vay được tính từ thời điểm thành viên đó lĩnh họ đến khi kết thúc dây họ; giới hạn lãi suất được tính trên cơ sở xác định được số tiền vay, thời gian vay ở trên.
6.2.
Lãi suất trong trường hợp chậm góp, chậm giao phần họ
(Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ, thành viên chưa lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm góp hoặc chậm giao phần họ được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn (20%/năm) của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả, nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn (20%/năm) của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả.
- Trường hợp đến kỳ mở họ mà thành viên đã lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi như sau:
+ Trường hợp họ không có lãi: lãi suất được xác định theo thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại
khoản 1 Điều 21 của Nghị định này
của số tiền chậm góp họ trên thời gian chậm góp, nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 50%/năm mức lãi suất giới hạn quy định tại
khoản 1 Điều 21 của Nghị định này
của số tiền chậm góp trên thời gian chậm góp.
Công thức tính cho cả trường hợp chậm góp, chậm giao phần họ (Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP) như sau:
+ Trường hợp có thỏa thuận:
Mức đóng phạt chậm góp/giao = Lãi suất phạt (≤ 20%/năm) x Số tiền chậm góp/giao x Thời gian chậm góp/giao.
+ Trường hợp không có thỏa thuận:
Mức đóng phạt chậm góp/giao = Lãi suất phạt (1/2 x ≤ 20%/năm) x Số tiền chậm góp/giao x Thời gian chậm góp/giao.
+ Trường hợp họ có lãi, lãi suất chậm góp, chậm giao phần họ được xác định theo mức quy định tại
khoản 5 Điều 466 của
BLDS năm 2015 đối với họ có lãi, cụ thể:
(1) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định như sau:
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn (≤ 20%/năm) tại thời điểm trả nợ
(
khoản 2 Điều 468 của
BLDS năm 2015).
(2) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
6.3. Hệ quả pháp lý trong trường hợp thỏa thuận lãi suất vượt quá quy định về giới hạn lãi suất
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP “
trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực
”. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường (khoản 2, khoản 4 Điều 131 BLDS năm 2015). Như vậy, trong quan hệ về họ, trường hợp các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới hạn thì phần vượt quá là vô hiệu, tùy loại họ cụ thể mà thành viên đã góp họ phải hoàn trả cho thành viên được lĩnh họ (hoặc chủ họ) phần lãi vượt quá giới hạn đó.
Khoản 2 Điều 25 Nghị định này quy định “
Chủ họ, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về họ
”.
6.4. Một số cách tính lãi suất trên thực tế
a)
Đối với các dây họ có lãi truyền thống, các thành viên bốc họ trước thường chỉ được nhận số tiền tương ứng với tổng số tiền mình đóng trừ đi tiền lãi, bốc họ càng sớm thì số bị trừ đi càng nhiều. Tương ứng, những thành viên bốc họ sau nhận được số tiền tương ứng với tổng số tiền mình đóng cộng với tiền lãi, nếu bốc họ càng về sau thì tiền lãi càng càng cao.
b)
Lãi suất vay vốn do tổ/nhóm quy định tại quy chế, thường dao động trong khoảng từ 0,5%/tháng đến 1%/tháng. Cách tính lãi do các thành viên trong tổ/nhóm thống nhất. Theo đó:
Có tổ/nhóm thống nhất cách tính lãi theo dư nợ giảm dần, tức là phần gốc trả dần sẽ được khấu trừ vào dư nợ tính lãi, theo đó tiền lãi phải trả cũng sẽ giảm tương ứng cho các kỳ kế tiếp.
Có tổ/nhóm thống nhất theo cách tính “lãi bằng”, tức là gốc và lãi tính trên số dư nợ gốc ban đầu, được chia đều thành các phần bằng nhau và trả dần qua các kỳ họp. Cách tính này phổ biến hơn do đơn giản, dễ tính, dễ theo dõi, phù hợp với trình độ dân trí của đa số
tổ/nhóm, đặc biệt những tổ/nhóm ở địa bàn vùng khó khăn, vùng miền núi, dân tộc thiểu số.
7. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ
7.1. Theo quy định của pháp luật
Pháp luật quy định cụ thể về các hình thức xử lý được áp dụng khi chủ họ hoặc thành viên họ vi phạm nghĩa vụ góp hoặc giao phần họ. Trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ dân sự (thực hiện nghĩa vụ, trả lãi chậm trả, bồi thường thiệt hại) và khả năng bị xử lý hành chính hoặc hình sự.
Chủ họ, thành viên hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự phổ biến trong hoạt động họ như: cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm khác.
a) Trách nhiệm của chủ họ do không giao hoặc giao không đầy đủ phần họ
(Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
- Trường hợp đến kỳ họ mà chủ họ không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ thì chủ họ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Trường hợp thành viên tham gia dây họ có thỏa thuận về phạt vi phạm, chủ họ phải chịu phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của BLDS năm 2015, cụ thể: các bên thỏa thuận bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
- Chủ họ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có) phát sinh từ việc chậm giao hoặc không giao tiền họ cho thành viên lĩnh họ.
b) Trách nhiệm của thành viên không góp phần họ
(Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
Khi đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp hoặc góp không đầy đủ phần họ, thành viên đó được coi là vi phạm nghĩa vụ cơ bản và phải chịu trách nhiệm đối với chủ họ (người thường phải đứng ra bù đắp phần thiếu hụt để giao đủ tiền cho người lĩnh họ). Thành viên không góp phần họ có các trách nhiệm sau:
(1) Hoàn trả số tiền mà chủ họ đã góp thay cho thành viên đó, tức là hoàn trả số tiền gốc đã bị thiếu hụt;
(2) Trả lãi đối với số tiền chậm góp/giao họ;
(3) Chịu phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của BLDS năm 2015;
(4) Bị yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có) phát sinh do việc chậm trễ hoặc không góp tiền họ đúng hạn.
7.2. Xử lý vi phạm nghĩa vụ trên thực tế
a)
Đối với dây họ truyền thống, thực tế cho thấy có tình trạng vi phạm nghĩa vụ của những người tham gia dây họ đặt ra yêu cầu trong
giải quyết vi phạm, tranh chấp phát sinh. Cụ thể, n
hiều vụ việc các đối tượng mượn danh dây họ để vay, cho vay tiền nhưng người tham gia không biết cụ thể dây họ có bao nhiêu thành viên, thứ tự lĩnh họ của các thành viên trong dây họ… mà chỉ xác lập quan hệ góp họ, lĩnh họ trực tiếp với chủ họ, thông tin được biết qua chủ họ;
nhiều tổ chức sử dụng cách thức như
họ và sử dụng các nền tảng số để hoạt động phạm tội với sự tham gia, hậu thuẫn của các chủ đầu tư là các đối tượng người nước ngoài để vay và cho vay, biến tướng thành “tín dụng đen”; có
trường hợp chủ họ tổ chức cùng lúc nhiều dây họ đông thành viên, giá trị lớn, không quản lý được các dây họ dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc không chịu chi trả cho thành viên dẫn đến một số các vụ việc vỡ họ gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức. Thực tế việc xử lý vi phạm không hề đơn giản và thường phải có sự tham gia của chính quyền, cơ quan giải quyết tranh chấp.
b)
Đối với các tổ/nhóm tương trợ vốn
-
Về tình trạng chậm trả:
khảo sát về thực trạng chậm trả của thành viên tại các tổ/nhóm cho thấy chỉ có số rất ít nợ chậm trả nhưng hầu như đều được thành viên thu xếp trả hết trong chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm.
Lý do thu hồi vốn vay tốt một mặt là do khoản vay không lớn phù hợp với khả năng quản lý tài chính của người dân, mặt khác là do quan hệ thành viên gần gũi nên uy tín và hình ảnh trong cộng đồng rất được thành viên coi trọng.
Nợ chậm trả có thể có hoặc không tính lãi phạt (nếu có - thêm 50% lãi suất cho thời gian chậm trả). Tuy nhiên, thực tế hầu như các tổ/nhóm không áp dụng lãi phạt mà chủ yếu
dùng biện pháp đôn đốc, thậm chí thuyết phục người thân trong gia đình của thành viên hỗ trợ.
- Về mức phạt:
tại nhiều tổ/nhóm các thành viên thống nhất quy định về mức xử phạt bằng tiền (khoảng 5-10 nghìn đồng/lần) đối với một số hành vi vi phạm quy chế, cụ thể như: Đi họp muộn; vắng họp không lý do (vắng có lý do là
khi thành viên
có
xin
phép
và gửi
tiền
mua
ít
nhất
1
phần vốn góp/cổ phiếu
và
đóng
quỹ tương trợ
đầy
đủ); quên
chìa
khóa
hòm tiền
khi
đi
họp (đối với thành viên được giao giữ chìa khoá)…
8. Thay đổi trong dây họ
8.1. Bổ sung thành viên
(Điều 9 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, một người muốn trở thành thành viên mới của dây họ khi có đủ hai điều kiện:
- Có sự đồng ý của chủ họ và của tất cả các thành viên dây họ.
- Góp đầy đủ các phần họ theo thỏa thuận tính đến thời điểm tham gia.
Trên thực tế, về nguyên tắc, thành viên mới có thể được bổ sung trong thời gian chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm nếu đáp ứng các tiêu chí lựa chọn thành viên và được sự thống nhất của tất cả các thành viên trong tổ/nhóm. Tuy nhiên, thực tế có tổ/nhóm không cho phép bổ sung thành viên mới, có tổ/nhóm chỉ xem xét việc bổ sung thành viên mới trong nửa đầu chu kỳ hoạt động, không cho phép gia nhập thành viên mới trong nửa cuối chu kỳ.
Do đặc thù của tổ/nhóm là thành viên tham gia góp vốn ngay từ đầu chu kỳ và góp định kỳ, liên tục đến cuối chu kỳ, khi kết thúc chu kỳ sẽ được nhận lại số vốn đã góp cộng thêm phần lãi được chia từ hoạt động cho vay của tổ/nhóm tương ứng với số vốn góp, nên các hạn chế này được các tổ/nhóm thống nhất để đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền lợi của các thành viên tham gia từ đầu chu kỳ.
8.2. Chấm dứt tư cách thành viên
a) Chấm dứt tư cách thành viên theo quy định pháp luật
Tư cách thành viên trong một dây họ sẽ chấm dứt khi cá nhân tự rút khỏi dây họ hoặc dây họ chấm dứt.
-
Trường hợp dây họ chấm dứt:
tư cách thành viên của tất cả mọi người sẽ chấm dứt.
- Trường hợp cá nhân rút khỏi dây họ (Điều 10
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP):
là tình huống diễn ra khi có thành viên không muốn hoặc không thể tiếp tục tham gia dây họ và cần phân tách trường hợp thành viên đã lĩnh họ rút khỏi dây họ và trường hợp thành viên đã góp họ mà chưa lĩnh họ. Cụ thể:
+ Đối với t
hành viên đã lĩnh họ: có thể rút khỏi dây họ nhưng phải góp các phần họ chưa góp và giao cho chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ trong trường hợp không có chủ họ (khoản 1 Điều 10), theo đó, chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ sẽ có trách nhiệm tiếp tục đóng các phần họ cho thành viên đã rút khỏi dây họ tại mỗi kỳ mở họ;
+ Đối với thành viên đã góp họ nhưng chưa được lĩnh họ thì những người tham gia có thể thỏa thuận để thành viên đó nhận lại các phần họ của mình, trường hợp không có thỏa thuận thì thành viên rút khỏi dây họ cần đợi đến khi kết thúc dây họ để được nhận lại các phần họ đã góp; nếu có lý do chính đáng thì được nhận lại phần họ đã góp tại thời điểm rút khỏi dây họ; thành viên rút khỏi dây họ phải hoàn trả một phần tiền lãi đã nhận (nếu có) và thực hiện nghĩa vụ khác theo thỏa thuận; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại BLDS năm 2015 (khoản 2 Điều 10).
Trường hợp người tham gia dây họ chết thì quyền, nghĩa vụ của người đó đã được xác lập trong quan hệ về họ được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế. Việc tham gia dây họ của người thừa kế được thực hiện theo thỏa thuận của người thừa kế và những người tham gia họ.
b) Một số trường hợp chấm dứt tư cách thành viên trên thực tế
- Đối với dây họ truyền thống: có nhiều trường hợp thành viên đã lĩnh họ nhưng không tiếp tục tham gia dây họ, đóng họ theo nghĩa vụ. Để tránh vỡ dây họ, thông thường chủ họ sẽ tiếp tục phải đóng phần họ của thành viên đó cho đến khi kết thúc dây họ. Cũng có trường hợp thành viên chưa lĩnh họ không tiếp tục tham gia, trong trường hợp này thường chủ họ cũng tiếp tục đóng họ và sẽ chi trả một phần họ đã đóng cho thành viên đó, có trường hợp chủ họ coi như thành viên bỏ họ và không chi trả nữa.
- Đối với các tổ/nhóm tương trợ vốn: thành viên có thể rời khỏi tổ/nhóm khi tổ/nhóm chưa kết thúc chu kỳ hoạt động nếu không còn dư nợ vay. Trong trường hợp này, thành viên chỉ được nhận lại số vốn đã góp (không được chia lãi) và
được
nhận
khi tổ/nhóm
có
sẵn
nguồn tiền. Thành viên qua đời thì việc tham gia tổ/nhóm của người thừa kế của thành viên đó được thực hiện theo thoả thuận giữa người thừa kế và các thành viên trong tổ/nhóm. Nếu không có thoả thuận khác thì toàn bộ số vốn đã góp của thành viên đó được để lại đến cuối chu kỳ và được chia lãi như các thành viên khác. Trường hợp
người thừa kế của thành viên
muốn
được
nhận
ngay
khi
chưa
kết
thúc
chu kỳ
thì
chỉ
được
nhận lại số vốn thành viên đó đã góp (không được chia lãi).
8.3. Chấm dứt dây họ
a)
Chấm dứt dây họ theo quy định pháp luật (Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP)
Dây họ chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
-
Theo thoả thuận của những người tham gia dây họ;
-
Mục đích tham gia dây họ của các thành viên đã đạt được;
-
Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Khi dây họ chấm dứt, mọi quyền và nghĩa vụ tài chính còn lại giữa các thành viên sẽ được giải quyết dựa trên thỏa thuận ban đầu của họ và tuân thủ các quy định chung của BLDS.
b)
Một số trường hợp chấm dứt dây họ trên thực tế
- Đối với dây họ truyền thống: dây họ truyền thống thường chấm dứt khi hoàn thành các vòng góp họ, lĩnh họ theo kế hoạch. Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít trường hợp dây họ chấm dứt giữa chừng do nhiều thành viên không tiếp tục tham gia (gọi là bùng họ) làm chủ họ không có khả năng đóng họ thay hoặc do chủ họ không tiếp tục tổ chức phiên góp họ, cho thành viên bốc họ nữa (gọi là bể họ). Thực tế này thường dẫn đến nhiều hệ lụy phức tạp, là xuất phát điểm của các tranh chấp, kiện tụng phát sinh về sau.
- Đối với tổ/nhóm tương trợ vốn:
Tổ/nhóm
hoạt động theo chu kỳ.
Chu kỳ hoạt động của tổ/nhóm được tính từ thời điểm diễn ra cuộc họp đầu tiên của chu kỳ cho tới thời điểm diễn ra cuộc họp cuối cùng của chu kỳ (cuộc họp tổng kết chu kỳ). Thời gian hoạt động của một chu kỳ được các thành viên thống nhất và ghi tại quy chế hoạt động, thông thường là 12
tháng. Tại cuộc họp tổng kết chu kỳ, tổ/nhóm sẽ thực hiện các công việc như:
+ Thu nốt số nợ gốc và lãi còn tồn và tiến hành phân chia lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay của tổ/nhóm cho các thành viên căn cứ trên số vốn đã góp của mỗi thành viên.
+ Hoàn trả cho thành viên số vốn họ đã đóng góp trong suốt chu kỳ và tiền lãi họ được hưởng.
+ Thống nhất phương án sử dụng số tiền còn dư của quỹ tương trợ (đối với những tổ/nhóm mà thành viên thống nhất lập quỹ này để chi thăm hỏi, hiếu hỉ…).
+ Bầu lại ban quản lý tổ/nhóm, rà soát quy chế hoạt động tổ/nhóm và thống nhất quy chế cho chu kỳ mới.
----------------------------------------------
PHẦN IV.
VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ, CƠ QUAN,
TỔ CHỨC KHÁC CÓ LIÊN QUAN
1. Ủy ban nhân dân cấp xã
+ Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, rủi ro, khuyến nghị các tổ chức phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương thực hiện tuyên truyền, vận động, hòa giải phù hợp nhằm hạn chế khiếu kiện kéo dài và mất ổn định xã hội.
+ Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho ban quản lý và thành viên về kỹ năng tổ chức, quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động, sử dụng và phân chia lãi, cũng như kỹ năng phòng ngừa và xử lý rủi ro. Việc theo dõi, hỗ trợ thường xuyên trong quá trình hoạt động của mô hình là cần thiết để kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh.
+ Đẩy mạnh truyền thông về các mô hình hoạt động hiệu quả, bài học kinh nghiệm điển hình; hỗ trợ lồng ghép, kết nối các nguồn lực nhằm tạo điều kiện cho thành viên nâng cao kiến thức, năng lực, tiếp cận các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tín dụng chính thức, qua đó hạn chế tín dụng đen và rủi ro tài chính.
----------------------------------------------
PHẦN V.
BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO, TRANH CHẤP VÀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1.
Biện pháp phòng ngừa rủi ro, tranh chấp
1.1. Kinh nghiệm chung
- Khi tổ chức dây họ, hoặc thành lập tổ/nhóm, chủ họ và các thành viên cần tuân thủ đúng các thủ tục, quy định đã được đặt ra tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Như: lập Văn bản thỏa thuận, Giấy biên nhận, Sổ họ… đầy đủ các nội dung như quy định. Lãi suất áp dụng không quá 20%/năm, tránh bị biến tướng thành cho vay nặng lãi… Yêu cầu chủ họ hoặc trực tiếp thực hiện việc thông báo đầy đủ cho UBND cấp xã về dây họ theo đúng quy định của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP (như yêu cầu Chủ họ phải thông báo dây họ cho chính quyền nếu dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên hoặc tổ chức từ hai dây họ trở lên)…
- Người dân chỉ tham gia dây họ khi biết rõ các thành viên tham gia dây họ, tạo liên kết và tương tác giữa các thành viên;
- Không nên tham gia dây họ quá đông thành viên; không nên tham gia dây họ mà chủ họ là chủ của nhiều dây họ cùng lúc, sinh sống và thu nhập từ việc làm chủ họ;
- Các thành viên cần lưu giữ các văn bản để làm bằng chứng bảo vệ quyền lợi cho mình, như: giữ thỏa thuận dây họ, giấy biên nhận; yêu cầu sao chụp tài liệu; chỉ tham gia khi thấy tin tưởng. Ngoài ra, chủ họ, ban quản lý tổ/nhóm cần yêu cầu thành viên ký giấy biên nhận khi nhận tiền họ của tổ, lưu giữ giấy biên nhân, sổ họ…
- Thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp không chắc chắn chủ họ, thành viên thực hiện được nghĩa vụ đóng họ, trả họ;
- Phản ánh với cơ quan có thẩm quyền (công an, UBND) với các chủ hụi, thành viên dây hụi về các hành vi không trung thực (thiếu minh bạch, thông tin không chính xác liên quan đến dây họ), đi khỏi nơi cư trú, sử dụng tiền góp của thành viên vào thực hiện việc khác.. để kịp thời ngăn chặn xử lý vi phạm pháp luật.
1.2. Đối với tổ/nhóm tương trợ vốn
- Về tổ chức quản lý tổ/nhóm: Các thành viên nên thống nhất bầu ra một Ban Quản lý tổ/nhóm, gồm tối thiểu các vị trí Tổ trưởng, Thư ký, Thủ quỹ và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng vị trí tại Quy chế hoạt động của tổ/nhóm. Việc quản lý tổ/nhóm thông qua một Ban Quản lý sẽ hạn chế bớt rủi ro phát sinh sai sót, chậm trễ, phụ thuộc vào một cá nhân, thiếu kiểm soát chéo và rủi ro gian lận, nhờ vậy hoạt động của tổ/nhóm được minh bạch và hiệu quả hơn.
- Về số tiền góp: chỉ nên ở mức nhỏ mang tính tương trợ giúp nhau; không nên chơi số tiền lớn dễ tiềm ẩn rủi ro.
- Về thời gian: chỉ nên tổ chức một kỳ với thời gian tối đa 01 năm (12 tháng), không nên kéo dài nhiều năm dễ dẫn đến rủi ro như khó trả nợ, khó theo dõi thông tin…
-
Về thành viên mỗi tổ/nhóm:
+ Cần giới hạn trong khoảng từ 15 đến 30 người để đảm bảo tính hiệu quả trong vận hành hoạt động của
tổ/nhóm
và giảm thiểu rủi ro phát sinh do quy mô
tổ/nhóm
quá lớn, vượt quá khả năng kiểm soát; trường hợp số thành viên tham gia vượt quá 30 người, nên xem xét tách
tổ/nhóm
.
+ Thành viên tham gia nên sống lân cận nhau.
+ Nên chọn những người có khả năng hợp tác với các thành viên khác trong nhóm, không nên kết nạp những thành viên dễ có những xung đột với người khác.
+ Những thành viên cần biết rõ về nhau, có uy tín và trung thực.
2. Giải quyết tranh chấp
2.1. Về các phương thức giải quyết tranh chấp
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về họ, pháp luật khuyến khích và ưu tiên áp dụng các phương thức thương lượng, hòa giải. Trường hợp thương lượng, hòa giải không thành, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về phương thức thương lượng
: giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng
là các bên tự đàm phán trực tiếp để tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình mà không có bên thứ ba tham gia. Quy trình thương lượng, cách thức thương lượng do các bên tự xác định với nhau trên tinh thần tự nguyện, trung thực, thiện chí để giải quyết. Thương lượng muốn thành công phụ thuộc phần lớn vào thiện chí của các bên, sự thông cảm, mong muốn cùng tiếp tục hợp tác trong tương lai.
Về phương thức hòa giải
: pháp luật Việt Nam hiện hành có nhiều dạng của phương thức hòa giải, theo đó tranh chấp về họ có thể được giải quyết bằng phương thức hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, phương thức hòa giải đối thoại tại Tòa án theo quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020. Các tranh chấp về họ không thuộc diện được hòa giải theo phương thức hòa giải thương mại.
Về phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án:
các bên có thể khởi kiện vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
.
2.2. Một số kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp
a) Đối với dây họ truyền thống
(1) Người tham gia họ cần nắm bắt kịp thời thông tin, dấu hiệu bất thường của dây họ để kịp thời có hướng xử lý:
- Dấu hiệu của dây họ không uy tín, dễ gây rủi ro:
+ Không biết các thành viên tham gia gồm những ai.
+ Không được cho xem sổ họ.
+ Không được cung cấp giấy biên nhận mặc dù đã yêu cầu.
+ Lãi suất cao bất thường.
+ Chủ họ thu - chi không minh bạch, không công khai ai đã đóng, ai chưa đóng; không cập nhật số liệu rõ ràng; thay đổi lời nói qua mỗi kỳ.
+ Chủ họ né tránh trả lời câu hỏi liên quan đến cách quản lý tiền.
+ Không có quy ước hoặc hợp đồng họ bằng văn bản, tất cả chỉ nói miệng, không có nội dung thỏa thuận nào được ghi lại.
+ Chủ họ hoặc thành viên trong dây họ từng có tranh chấp hoặc nợ nần, nhất là nếu có người từng bỏ họ, giật họ hoặc bị tố cáo.
+ Thành viên tham gia chủ yếu là người quen của chủ họ nhưng không rõ lai lịch, dễ dẫn đến việc “họ khống”, “người ảo”, hoặc cấu kết giật họ.
+ Số lượng thành viên tăng quá nhanh trong thời gian ngắn, có thể là dấu hiệu lấy tiền người sau trả cho người trước, thay vì có nguồn tiền thật để trả, là kiểu huy động vốn rủi ro.
- Dấu hiệu nhận biết dây họ có dấu hiệu đổ vỡ:
+ Không liên lạc được với chủ họ, chủ họ không ở địa chỉ cư trú nữa.
+ Chủ họ hẹn lần lữa, chi trả không đúng hẹn, lấy lý do để không trả tiền.
+ Chủ họ thay đổi phương thức thu - chi, yêu cầu chuyển tiền lòng vòng, ví dụ: yêu cầu gửi qua tài khoản người khác, hoặc đổi người thu tiền không rõ lý do.
+ Nhiều thành viên cùng lúc đóng trễ hoặc bỏ không đóng, dẫn tới nguy cơ không đủ tiền chi trả cho người đến kỳ lĩnh họ.
+ Chủ họ liên tục mở thêm dây mới trong khi dây cũ thường xuyên chi trả muộn.
+ Chủ họ có dấu hiệu khó khăn: có nợ xấu bên ngoài, bị người khác tìm đến đòi nợ.
+ Thời gian tổ chức kỳ họ bị thay đổi nhiều lần với lý do không rõ ràng, không hợp lý, thường là vì chưa gom đủ tiền để giao cho người lĩnh.
(2) Kịp thời báo cáo, thông tin cho chính quyền (tổ dân phố, UBND, công an khu vực) để được hỗ trợ giải quyết, giữ trật tự, an toàn theo quy định pháp luật.
(3) Chủ động tích cực, thiện chí trong quá trình thương lượng, hòa giải; khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ bảo đảm đúng trình tự, thủ tục pháp luật, tránh gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương.
b) Đối với tổ/nhóm tương trợ vốn
- Người tham gia các tổ/nhóm tương trợ vốn cần nắm bắt kịp thời thông tin, dấu hiệu bất thường của tổ/nhóm để kịp thời có hướng xử lý (tương tự như các dấu hiệu nhận biết dây họ truyền thống không uy tín, dễ gây rủi ro, có dấu hiệu đổ vỡ đã nêu tại mục a).
- Thực hiện giải quyết tranh chấp theo cơ chế đã được quy định rõ trong quy chế hoạt động của mô hình và hướng dẫn của tổ chức chủ quản.
- Tổ chức tham vấn, hòa giải nội bộ với sự tham gia của ban quản lý mô hình, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị thực hiện dự án.
- Trường hợp vượt thẩm quyền, cần phối hợp với chính quyền và cơ quan chức năng để xử lý theo quy định pháp luật.
- Tổ chức rút kinh nghiệm, điều chỉnh quy trình quản lý, vận hành để hạn chế rủi ro, tranh chấp phát sinh trong các chu kỳ tiếp theo.
----------------------------------------------
PHẦN VI.
PHỤ LỤC MỘT SỐ MẪU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1. MẪU THỎA THUẬN VỀ HỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập
-
Tự do
-
Hạnh phúc
HỢP ĐỒNG
-
Căn cứ Bộ luật Dân sự
năm 2015;
- Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào nhu cầu và khả năng của các bên.
Hôm nay ngày … tháng… năm 20….
Chúng tôi gồm
:
1.
Chủ họ, tổ trưởng/nhóm trưởng:
Ông/Bà A
………………………………………………………………………………
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………….
Nơi cư trú:……………………………………………………………………………..
2.
Các thành viên:
2.1.
Ông/Bà B
……………….....…………………………………………………….
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………….
Nơi cư trú:………………………………………………………………………….….
2.2. Ông/Bà C
………………………………………………………………...............
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………….
Nơi cư trú:…………………………………………….……………………………….
2…. Ông/Bà
…………………………………………………………………………
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………….
Nơi cư trú:…………………………………………….……………………………….
Sau khi bàn bạc, thỏa thuận chúng tôi thống nhất giao kết hợp đồng về họ, hụi, biêu, phường với các nội dung sau:
Điều 1. Thông tin cơ bản về dây họ:
1. Chủ họ:……………………………………………………………………..
2. Số lượng thành viên: ….. người
(theo thông tin đã thể hiện ở trên).
3. Loại họ: họ không có chủ họ/có chủ họ (có hưởng hoa hồng/không hưởng hoa hồng); họ có lãi/không có lãi.
Điều 2. Kỳ họ, thể thức góp và lĩnh họ
1. Các bên tham gia dây họ với thời gian là…… tháng/tuần, từ ngày ….tháng… năm…đến ngày…tháng …năm…
2
.
K
ỳ
mở
họ
:
ngày … hàng tháng
/tuần
cho đến
khi kết thúc dây họ; tổng cộng có …. kỳ mở họ.
3. Giá trị phần họ: ….. đồng (
bằng chữ
…………………………….).
4. Thể thức góp họ: nộp trực tiếp/chuyển khoản/……
Cách thức góp: góp tại mỗi kỳ mở họ/góp một lần…
5
.
Thể thức lĩnh họ: nhận trực tiếp/được chuyển khoản/….
.
Cách thức lĩnh họ: nhận tại kỳ mở họ khi đến lượt lĩnh họ.
6. Các xác định thành viên lĩnh họ từng kỳ bằng cách: bốc thăm/quay vòng/đăng ký/người trả lãi cao nhất/…
Kết quả xác định thứ tự
lĩnh họ:
|
TTT
|
Họ tên người lĩnh
|
Thời gian lĩnh họ
|
Số tiền (bao gồm gốc, lãi hoặc trả lãi)
|
|
1.
|
|
|
|
|
2.
|
|
|
|
|
3.
|
|
|
|
|
4.
|
|
|
|
|
5.
|
|
|
|
Điều
3.
Lợi ích, trách nhiệm
của các bên
1. Mức hưởng hoa hồng của chủ họ (
nếu là họ hưởng hoa hồng
): ………….
2. Lãi suất (
nếu là họ có lãi
): …..%/tháng (
tối đa không quá 20%/năm
).
3. Trách nhiệm ký quỹ hoặc biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (như thế chấp, cầm cố tài sản,…) của chủ họ (
nếu có)
:
……………………………………………………...
4. Việc chuyển giao phần họ.
5. Gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ.
6.Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ (
như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
,…)
7. Nội dung khác.
Điều 4. Quyền và nghĩa vụ của các bên
Quyền và nghĩa vụ của chủ họ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo quy định tại Điều 15 đến Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP (
tùy thuộc loại họ
).
Điều 5. Điều khoản chung
Các bên cam kết thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung đã quy định tại văn bản này cùng các thỏa thuận tại văn bản khác mà tạo nên hợp đồng cũng như hồ sơ hợp đồng. Nếu có phát sinh vướng mắc, sự hiểu không đồng nhất hoặc xung đột quyền, nghĩa vụ thì các bên cùng tiến hành thương lượng, hòa giải để giải quyết các vấn đề phát sinh đó. Nếu không giải quyết được mỗi bên đều có quyền khởi kiện ra Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết tranh chấp. Luật pháp Việt Nam được áp dụng cho việc xác lập, điều chỉnh các vấn đề nội dung cũng như để giải thích hợp đồng hoặc để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Điều 6. Hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký. Hợp đồng này được lập thành … (…) bản, mỗi bên giữ 01 bản có giá trị pháp lý như nhau./.
Chủ họ, các thành viên cùng ký tên xác nhận
Ông/Bà A Ông/Bà B Ông/Bà C Ông/Bà
…..
PHỤ LỤC 2. MẪU GIẤY BIÊN NHẬN
(Giao thành viên dây họ giữ)
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
GIẤY BIÊN NHẬN PHẦN HỌ
Hôm nay, ngày……tháng……năm……… tại…….…., chúng tôi gồm:
BÊN GIAO TIỀN
(gọi tắt là: BÊN A): Ông/Bà………………………………………
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..….
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:………………………………
Nơi cư trú:……………………………………………………………………………...
BÊN NHẬN TIỀN
(gọi tắt là: BÊN B): CHỦ HỌ- Ông/Bà……………………..…...
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..….
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:………………………………
Nơi cư trú:……………………………………………………………………………...
Bên A là thành viên của dây họ mà Bên B là chủ họ theo Hợp đồng họ, hụi, biêu, phường được giao kết ngày ………/………./………..
Bằng Giấy biên nhận này xác nhận Bên A đã bàn giao cho Bên B số tiền:……………
(
Bằng chữ
:………………………………………………………..) là khoản tiền góp họ mà Bên A theo thỏa thuận có trách nhiệm góp phần họ tại các kỳ mở họ (kỳ mở họ thứ……. mở ngày…../…../…….)
Số kỳ họ còn lại Bên A tham gia:……
Bên B xác nhận đã nhận đủ tiền từ bên A và cam kết thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Giấy biên nhận được lập thành 02 (hai) bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ 01 (một) bản.
|
BÊN GIAO TIỀN
|
BÊN NHẬN TIỀN
|
PHỤ LỤC 3. MẪU GIẤY BIÊN NHẬN (GIAO CHO CHỦ HỌ GIỮ)
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
GIẤY BIÊN NHẬN LĨNH HỌ
Hôm nay, ngày……tháng……năm……… tại…….…., chúng tôi gồm:
BÊN GIAO TIỀN
(gọi tắt là: BÊN A): CHỦ HỌ- Ông/Bà………………………..….
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………………….
Nơi cư trú:……………………………………………………………………………..
BÊN NHẬN TIỀN
(gọi tắt là: BÊN B): Ông/Bà………………………………………
Ngày sinh:…………………………………………………………………………..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:…………………….
Nơi cư trú:…………………………………………………………………………….
Bên B là thành viên của dây họ mà Bên A là chủ họ theo Hợp đồng họ, hụi, biêu, phường được giao kết ngày ………/………./………..
Bằng Giấy biên nhận này xác nhận Bên A đã bàn giao cho Bên B số tiền: ….………………..(
Bằng chữ
:………………………………………………………..) là khoản tiền lĩnh họ mà Bên A theo thỏa thuận được lĩnh (kỳ mở họ thứ……. mở ngày…../…../…….
Số kỳ họ còn lại Bên B phải đóng:……
Bên B xác nhậnđã nhận đủ tiền từ bên A và cam kết đóng đầy đủ …. kỳ còn lại đúng hạn.
Giấy biên nhận được lập thành 02 (hai) bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ 01 (một) bản.
|
BÊN GIAO TIỀN
|
BÊN NHẬN TIỀN
|
PHỤ LỤC 4. MẪU SỔ HỌ
(Dành cho chủ họ, tổ trưởng tổ tương trợ)
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SỔ THEO DÕI HỌ
Ngày lập sổ họ: ngày… tháng …năm …
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ DÂY HỌ
|
Nội dung
|
Thông tin
|
|
Chủ họ
|
- Họ và tên:………………….……………………………………….
- Ngày sinh:………………
…………. ……………………………..
- Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:……………
- Nơi cư trú:………………………………….………………………
- Số điện thoại liên hệ:…………...…………………………………..
|
|
Loại họ
|
Họ có hưởng hoa hồng/không hưởng hoa hồng; họ có lãi/không có lãi.
|
|
Phần họ
|
Ghi giá trị tiền của một phần họ và tổng giá trị phần họ phải góp tại kỳ mở, ví dụ:
- Giá trị 1 phần họ: 1.000.000đ/phần
- Tổng số phần họ: 20 phần
- Tổng số tiền của kỳ mở họ (kỳ đầu): 20 triệu
Nghĩa là: Mỗi phần họ trị giá 1.000.000 đồng. Tổng 20 phần. Tổng số tiền thu trong kỳ mở họ: 20.000.000 đồng.
|
|
Thời gian diễn ra dây họ
|
Thời gian bắt đầu dây họ và kết thúc dây họ
|
|
Kỳ mở họ
|
- Ngày mở kỳ đầu tiên
- Ai được lĩnh trong kỳ mở
- Số người tham gia đầy đủ
Ví dụ: Kỳ mở họ thứ 1 vào ngày...tháng… năm. Không có ưu tiên lĩnh trong kỳ mở. Tất cả thành viên góp đủ phần.
|
|
Thể thức góp họ
|
- Ghi rõ cách thức góp tiền ở mỗi kỳ: góp theo tuần/nửa tháng/tháng
- Góp bằng tiền mặt trực tiếp hay chuyển khoản
- Thời điểm phải góp
- Tiền phạt chậm góp (nếu có)
Ví dụ: Góp họ theo tháng, vào ngày 15 hằng tháng. Thành viên góp tiền mặt trực tiếp cho chủ họ. Trễ quá 03 ngày bị phạt 20.000đ/kỳ.
|
|
Thể thức lĩnh họ
|
Ghi cách thức để xác định ai được lĩnh: bốc thăm; theo thứ tự thỏa thuận trước…
Lĩnh đầu/lĩnh cuối
|
|
Các nội dung khác
|
Ghi thêm những thông tin bổ sung khác có ảnh hưởng đến việc vận hành dây họ.
Ví dụ:
- Thành viên phải thông báo nếu thay đổi số điện thoại.
- Không được tự ý chuyển nhượng phần họ nếu không có sự đồng ý của chủ họ.
- Chủ họ có trách nhiệm ghi chép đầy đủ các kỳ góp và kỳ lĩnh.
…
|
II. DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA HỌ
|
STT
|
Họ và tên
|
Ngày, tháng, năm sinh
|
Số CMND/CCCD/
Hộ chiếu
|
Nơi cư trú
|
Ngày bắt đầu tham gia
|
Chữ ký/Điểm chỉ
|
|
1
|
|
|
|
|
|
|
|
2
|
|
|
|
|
|
|
|
3
|
|
|
|
|
|
|
|
…
|
|
|
|
|
|
|
III. THEO DÕI GÓP HỌ
|
STT
|
Họ và tên
|
Ngày, tháng, năm sinh
|
Số CMND/
CCCD/
Hộ chiếu
|
Nơi cư trú
|
Ngày góp họ
|
Số tiền góp (VNĐ)/hoặc loại tài sản khác
|
Kỳ họ
|
Chữ ký/Điểm chỉ
|
|
1
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
…
|
|
|
|
|
|
|
|
|
IV. THEO DÕI LĨNH HỌ
|
STT
|
Họ và tên
|
Ngày, tháng, năm sinh
|
Số CMND
/CCCD/
Hộ chiếu
|
Nơi cư trú
|
Ngày lĩnh họ
|
Số tiền lĩnh (VNĐ)/hoặc loại tài sản khác
|
Kỳ họ
|
Chữ ký/Điểm chỉ
|
|
1
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
3
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
…
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHỦ HỌ
…….
Lưu ý:
Sổ theo dõi họ gồm các nội dung như trên trong trường hợp dây họ có ít thành viên tham gia. Trường hợp dây họ có nhiều thành viên, mỗi nội dung có thể được lập thành một văn bản riêng để thuận tiện cho việc quản lý, kiểm tra và lưu trữ.
PHỤ LỤC 5. MẪU THÔNG BÁO GỬI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG BÁO VỀ DÂY HỌ (HỤI, BIÊU, PHƯỜNG)
Kính gửi:
Ủy ban nhân dân xã/phường …………………………...
Tôi tên là: ………………………………………………………………………………
Ngày sinh:……………………………………………………………………..………..
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:……………………..……..…...
Nơi cư trú:………………………………………………………………………………
Số điện thoại liên hệ: ………..
Tôi xin được
thông báo đến Ủy ban
nhân dân xã về việc tổ chức dây họ (hụi, biêu, phường) với các nội dung cụ thể như sau:
1. Về trường hợp cần phải thông báo:
Dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên.
Chủ họ tổ chức từ hai dây họ trở lên. Cụ thể:……..dây
2. Thông tin về dây họ:
a) Thông tin về chủ họ:
Họ và tên chủ họ: ………………………………………………………………………
Ngày sinh:……………………………………………………………………..……..…
Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu:……………………..……..…..
Nơi cư trú:………………………………………………………………………………
Số điện thoại liên hệ: …………………………………………………………..……….
b) Thời gian bắt đầu và kết thúc dây họ:………………………………………………..
c) Tổng giá trị các phần họ tại kỳ mở họ:………………………………………………
d) Tổng số thành viên:…………………………………………………………………..
Tôi cam kết các thông tin trên là đúng sự thật.
Kính mong Ủy ban nhân dân xã xem xét, ghi nhận thông báo.
Xin chân thành cảm ơn!
…, ngày …… tháng …… năm ……
NGƯỜI THÔNG BÁO
(Ký và ghi rõ họ tên)